(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 80: Táng đởm kinh hồn
Hạ tuần tháng 5, Sứ tướng Nguyễn Quốc Khánh đã lệnh cho sáu nghìn quân hạ trại gần bờ Bắc. Từ những tháp canh hay ngọn cây cao gần bờ Nam, chẳng khó để trông thấy cờ quạt bên kia sông.
Từ các tháp canh phía trước làng Vạn, nhìn cờ Bỉnh Di có thể ước tính địch quân không dưới bốn nghìn. Như vậy, hai nghìn quân còn lại sẽ tiến đánh Thiên Đức. Đội quân trợ chiến, theo lời Chương, gồm bốn nghìn người, sẽ ở phía sau tiếp ứng.
Hai nghìn bảy trăm quân chống lại một vạn, tỷ lệ một chọi bốn. Nếu có tường thành kiên cố thì xem như lực lượng tương đương.
Dân chúng trong vùng đã biết Vũ Ninh vương sẽ đánh sang nhưng chẳng biết chạy đi đâu, chỉ còn cách chôn giấu lương thực và cầu mong toàn mạng.
Điều khiến dân chúng trong vùng, Sứ tướng Nguyễn Quốc Khánh, và cả Lâm Uyển Như – người đã neo phân nửa đội thuyền gần ngã ba sông Dâu và Thiên Đức – đều cảm thấy lạ lùng, chính là việc Thiên Gia Bảo Hựu và quân Thiên Đức tuyệt nhiên không có động tĩnh điều binh. Quân sĩ vẫn hoạt động như thường lệ: sau khi giúp dân gặt, tuốt lúa, giã gạo, họ vẫn tuần tra theo nhóm cả ngày lẫn đêm. Không ai thấy binh sĩ Thiên Gia Bảo Hựu có vẻ gì sợ hãi hay có ý định trốn chạy.
Sứ tướng Nguyễn Quốc Khánh tự đưa ra lời giải thích: ông cho rằng Thiên Gia Bảo Hựu tin Lý Lệnh công sẽ giúp đỡ, hoặc nếu có muốn chạy thì cũng chẳng biết chạy đi đâu. Chỉ còn cách chạy về Siêu Loại, mà Lý Lệnh công thì chẳng dại gì không tiện tay dẹp luôn loạn quân.
Sáng sớm ngày 23 tháng 5 năm Thiên Đức thứ 25, khi trời còn tờ mờ, gà vừa gáy canh thì tiếng trống ngũ liên đã vang dậy khắp cả một vùng. Hòa cùng tiếng trống thúc giục dồn dập, vội vã là những tràng tù và thổi dài liên hồi. Dân chúng trong vùng ai nấy đều run sợ, cửa đóng then cài không dám hé nhìn ra ngoài.
– Tiểu thư! Sứ tướng Nguyễn Quốc Khánh đã nổi trống tiến quân, đang cho bắc cầu phao vượt sông rồi ạ!
Lâm Uyển Như từ trong phòng ngủ vội chạy ra mũi thuyền, nét mặt lộ rõ vẻ lo lắng pha lẫn mệt mỏi.
– Bên Thiên Gia Bảo Hựu có động tĩnh gì chưa?
– Ngoài tiếng tù và thổi liên tục thì chưa có động tĩnh nào đáng kể cả. Chỉ thấy một nhóm chừng trăm nữ cung thủ từ làng Nhất Vạn ra sát bờ sông, bắn tên vào đám quân đang bắc cầu phao.
– Nữ nhân ư? Sao lại là nữ nhân?
Uyển Như thắc mắc, nhưng chẳng ai có thể trả lời câu hỏi của cô.
Bùi Thị Xuân dẫn hơn trăm nữ binh dưới trướng từ làng Nhất Vạn, nhanh chóng di chuyển ra bờ sông. Tại đó, kẻ địch đang dùng những thuyền nhỏ xếp gần nhau, rồi bắc thang tre vắt ngang qua sông.
Có cả thảy năm cầu phao!
Bùi Thị Xuân ra lệnh bắn tên khi địch chỉ còn cách bãi cát chưa đầy hai mươi trượng. Sau ba loạt tên bắn, không một kẻ địch nào bị thương. Lính bắc cầu phao và tiền quân của địch tiến theo hàng dọc, thang bắc đến đâu thì quân tiến sang đến đấy. Tất c�� đều trang bị phên tre trát rơm trộn bùn non. Những mũi tên chỉ cắm vào lớp bùn nhão, chẳng gây ra tổn hại gì.
Bùi Thị Xuân lệnh cho đội nữ binh chia làm ba nhóm, nhanh chóng rút về ba làng Vạn.
Tiền quân do Kiều Công Ngạn đích thân chỉ huy đã lên được bờ, nhanh chóng thiết lập điểm đầu cầu và xếp đội hình rẻ quạt chờ trung quân sang. Chừng ba khắc trôi qua, có thể nói toàn bộ bốn nghìn tinh binh đã vượt thành công con sông rộng hàng trăm trượng mà không gặp bất cứ trở ngại nào.
Sứ tướng Nguyễn Quốc Khánh đứng trên tháp canh cao ba trượng mới dựng trong đêm từ bờ Bắc, nhìn Kiều Công Ngạn dàn quân trên cánh đồng trống trong khi không thấy bóng dáng địch quân đâu. Nguyễn Quốc Khánh thoáng nghĩ: có khi nào tin tức đã bị lộ, khiến quân Thiên Gia Bảo Hựu trốn sạch trong đêm, đến nỗi chỉ còn lại đám đàn bà ra ném được vài mũi tên rồi bỏ chạy?
– Nhắc Tả tướng quân, nếu chúng rút lên núi cũng phải truy quét bằng được.
Nguyễn Quốc Khánh ra lệnh, đồng thời bắt đầu chú ý đến những dải khăn xanh đỏ như lụa đang bay phấp phới trên những ngọn cây cao hoặc tháp canh gần bờ sông. Tuy nhiên, Khánh chẳng thể hiểu chúng dùng để làm gì. Nhớ lại việc bị một đứa trẻ ranh mũi còn chưa sạch lỡm cho một vố, khiến mất cả nghìn quân, Khánh chỉ muốn chém Phạm Tu thành trăm mảnh.
Phạm Bạch Hổ, tổng chỉ huy hai mươi khẩu pháo trên lưng chừng núi, nhìn địch quân lũ lượt qua sông, dàn trận trên cánh đồng lúa mới gặt hãy còn trơ gốc rạ mà lòng dạ sôi sục. Hắn liên tục đi đi lại lại, hơi thở có phần gấp gáp. Không chỉ riêng Hổ, mà toàn bộ đội pháo binh cũng đều có tâm trạng như vậy. Bọn Hổ không hề sợ hãi, mà chỉ đang hồi hộp chờ đợi giây phút khai hỏa.
– Gió thổi Tây sang Đông, nhẹ!
Hổ nói lớn, và có tiếng nhại lại cách đó khoảng mươi trượng. Hai mươi khẩu pháo được bố trí dài cả dặm.
– Hữu một phần hai!
Hổ lệnh cho khẩu pháo mình phụ trách hiệu chỉnh. Các khẩu đội khác cũng hiệu chỉnh, song những khẩu đội nằm ở rìa phải đội hình sẽ điều chỉnh ngược hướng với Hổ.
Khẩu pháo do Hổ phụ trách lập tức được dịch hướng sang bên ph��i năm phân. Một binh sĩ sẽ nhòm qua ống trúc gắn phía trước để căn chỉnh.
Theo như những gì đã bàn tính, thống nhất và được học, bọn Hổ sẽ chờ cho tiền quân địch áp sát làng ba Vạn rồi mới bắt đầu khai hỏa.
Năm loạt đầu tiên sẽ bắn vào hậu quân của địch; từ loạt thứ sáu đến thứ mười lăm, nhiệm vụ sẽ được chia cụ thể. Khẩu đội số lẻ bắn gần, khẩu đội số chẵn bắn xa. Từ loạt thứ mười sáu trở đi, mỗi khẩu đội sẽ tự quyết định bắn dựa vào tình hình thực tế. Trường hợp cần bắn tập trung, họ sẽ dùng còi hiệu thổi ba hồi rồi truyền khẩu lệnh cho nhau.
Hổ nhìn thấy kỳ hiệu của Kiều Công Ngạn đặt cạnh kỳ hiệu của Vũ Ninh vương. Kiều Công Ngạn chia quân làm năm, tập trung tiến đánh làng Nhất Vạn vì đây là làng lớn nhất và có cờ hiệu của Thiên Gia Bảo Hựu.
Tiền quân dàn hàng ngang đi trước; trung quân, với cờ hiệu Vũ Ninh vương, đi giữa đội hình. Kiều Công Ngạn ở trong trung quân, nổi bật với áo bào, mũ trụ và cưỡi trên lưng ngựa chiến. Tả và hữu quân bảo vệ hai sườn, xếp thành hình ch�� nhật dọc theo hướng nhìn của Hổ. Hậu quân xếp ngang, với quân số khoảng năm trăm người.
Trước tình hình thực tế, Hổ liền ra lệnh thay đổi kế hoạch:
– Sau năm loạt đầu, hãy nhắm vào trung quân!
Mệnh lệnh được truyền đi nhanh chóng. Tiếp theo đó là sự chờ đợi.
– Mục tiêu, tiền quân cách căn cứ một trăm trượng!
– Nghe rõ!
Mục tiêu hay căn cứ là những thuật ngữ mà Chương yêu cầu đội pháo binh học thuộc. Trong đó, "mục tiêu" là địch còn "căn cứ" là nơi cần bảo vệ.
– Mục tiêu, tiền quân cách căn cứ tám mươi trượng, hướng gió không đổi.
– Nghe rõ!
Hổ đôi khi không hiểu vì sao Chương lại yêu cầu binh sĩ phải nhắc đi nhắc lại những câu nói đó.
– Mục tiêu, tiền quân cách căn cứ năm mươi trượng!
– Nghe rõ!
Dưới cánh đồng, Kiều Công Ngạn vẫn còn nhếch miệng cười tự đắc vì đã nhìn rõ cổng làng Nhất Vạn và cờ hiệu của địch quân mà hắn nghĩ không thể tìm thấy. Cho dù Phạm Tu có mưu mô quỷ kế gì đi nữa thì với bốn nghìn quân trong tay, Kiều Công Ngạn tin rằng ông ta có là danh tướng cũng sắp trở thành bại tướng của mình.
Từ tướng đến quân dưới trướng Ngạn chỉ chăm chú nhìn lũy tre làng Nhất Vạn. Chẳng ai mảy may chú ý đến sườn núi cao khoảng hơn hai mươi trượng so với mặt ruộng. Trên sườn núi ấy có nhiều tán cây mới bị phạt ngọn, và trước mỗi khoảng trống đều buộc một dải khăn đỏ trắng. Những dải khăn này na ná như những cái thấy ở các tháp canh nơi bờ sông hoặc vài ngọn cây trên cánh đồng trống mà đội quân vừa đi ngang qua.
Chính Ngạn cũng thấy trên cánh đồng vương vãi nhiều mảng đất đỏ au to hơn nắm tay, trông như gạch bị đập vỡ. Hắn nhìn thấy nhưng chẳng hiểu gì nên cũng không để tâm.
Đoàn quân hơn bốn nghìn người cứ thế mà bước vào cửa tử.
– Tiểu thư nhìn kìa, cờ hiệu của Vũ Ninh vương, cạnh bên là cờ hiệu Tả tướng quân chỉ còn cách làng Nhất Vạn chưa đầy năm mươi trượng mà trong làng vẫn chẳng thấy động tĩnh gì.
– Chẳng lẽ bọn họ đã trốn lên núi rồi sao?
– Chỉ còn cách ấy thôi, chứ nếu chạy về Siêu Loại thì cũng bị Lý Lệnh công bắt giết hết thôi.
– Không đời nào lại như vậy. Hay là trong đêm họ đã rút về phía đầm lầy, hợp quân với Thiên Đức, và chỉ để lại nữ binh để nghi binh?
– Có lẽ là vậy ạ.
Lâm Uyển Như đã rời thuyền, chọn một gò đất gần bờ sông để quan sát và không khỏi lo lắng. Lúc này cô chẳng mất gì, nhưng nếu chàng trai mà cô có hảo cảm tử trận thì thật đau buồn biết bao.
– Chi Lan, những cờ hiệu kia là gì vậy?
– Dạ, đâu ạ?
– Thứ trên tháp canh, trên những ngọn cây và… kia kìa… trên lưng chừng núi nữa.
– Tiểu nữ không biết ạ. Có lẽ đó là một loại cờ hiệu nào đó.
– Ngươi nhìn đi, nhìn xem kìa!
Chi Lan nhìn theo hướng Uyển Như chỉ, nhưng vẫn chưa kịp hiểu ra.
– Cờ ở bờ sông và cờ trên núi có màu đỏ và trắng, ngươi thấy không? Chúng không phải treo ngẫu nhiên đâu, nhất định là có ẩn ý. – Uyển Như nói nhanh. – Còn cờ treo trên những cây gần làng thì có màu trắng, xa hơn nữa là màu vàng, rồi đến màu xanh. Chúng được xếp theo một hàng đấy.
– Điều đó thì có nghĩa gì ạ?
– Có khi nào chúng dùng để đo khoảng cách không nhỉ? Ta th��y những lá cờ cách nhau rất đều. Đó… đó có thể là một cái bẫy!
– Hầm chông ạ? Hay là… một cái gì đó khác?
– Kỵ binh không có, hầm chông làm sao phát huy tác dụng lớn được. Dù ta không trong quân cũng biết. Ta e là…
– Sao vậy, tiểu thư?
– E là Kiều Công Ngạn đã mắc mưu rồi, đúng vậy, hắn đã mắc mưu thật rồi. Anh Chương không bỏ chạy nghĩa là đã có phòng bị, chờ đợi Kiều Công Ngạn sang.
– Tiểu thư, người cứ một câu anh Chương, hai câu anh Chương, nghe sởn da gà quá.
– Ngươi biết gì mà nói, đó là ý trung nhân của ta đấy.
Do vị trí quan sát của mình mà Lâm Uyển Như phát hiện ra những lá cờ có chủ đích. Còn Nguyễn Quốc Khánh hay Kiều Công Ngạn khi nhìn trực diện thì khó lòng nhận ra.
– Tiền quân cách căn cứ hai mươi trượng. Gió vẫn không đổi!
– Nghe rõ!
– Tiền quân cách căn cứ mười trượng, đã dàn quân bắn hỏa tiễn lên bờ tre, chuẩn bị vượt hào!
– Nghe rõ!
Hổ nhắm mắt lại, hít một hơi thật sâu rồi thở mạnh ra. Hai mắt hắn mở to, môi mím chặt, rồi hắn ra khẩu lệnh ngắn gọn:
– Đá nhỏ, tầm bắn một trăm năm mươi, hướng giữ nguyên. Chuẩn bị bắn năm lượt!
Trong khẩu lệnh, "một trăm năm mươi" tương đương năm trăm mét. Pháo đặt trên cao hơn sáu chục mét, bắn theo góc từ 45 đến 60 độ, nên đạn sẽ bay rất xa. Làng Nhất Vạn có hình bán nguyệt, lưng tựa vào núi. Từ chân núi đến cổng chính làng Nhất Vạn ước chừng một trăm trượng.
Viên đạn đá đường kính khoảng hai mươi phân được đặt vào giá đỡ.
– Chuẩn bị…
Hai binh sĩ dùng sức kéo dây thừng, vít chặt hai thân tre xuống.
– Bắn!
Hổ phất tay, hai binh sĩ đồng loạt thả tay. Hai thân tre cột chặt vào nhau bật lên, đập vào thanh gỗ chắn ngang, và viên đạn đá bay vút vào khoảng không trước mặt. Hổ và các binh sĩ đều mở to mắt để theo dõi xem viên đạn đầu tiên sẽ hướng đến mục tiêu thật sự như thế nào, bởi họ đã khổ cực hơn tháng qua bất kể ngày đêm để luyện tập.
Kiều Công Ngạn lệnh bắn hỏa tiễn lên bụi tre gai, và bắn vào cổng chính. Cứ hai binh sĩ khiêng một thang tre trên đầu, chạy lên hò nhau phóng thang qua bờ tre, hòng tạo lối vượt hào chông. Những binh sĩ khác dàn ngang, giơ phên tre trát bùn non trộn rơm lên để che tên bắn.
Bên trong làng Vạn vẫn im lìm, tuyệt nhiên không thấy mũi tên nào bắn ra.
Ngạn cho nổi trống thúc giục tiền quân nhanh chóng mở đường tiến thẳng vào cổng chính.
Hàng quân phía sau có tiếng la hét, nơi đó có chút lộn xộn, nhưng Ngạn nhìn quanh vẫn không thấy gì lạ.
– Báo!
Một lính chạy lên báo với Ngạn:
– Bẩm, có đá rơi xuống đầu trung quân ạ.
– Cái gì? Đá ở đâu ra?
– Bẩm, trên trời rơi xuống ạ!
Ngạn và các quân sĩ gần đó nghe vậy, chẳng ai bảo ai, đều nhất loạt ngẩng đầu lên trời.
Trời vẫn còn sớm, mặt trời chưa lên cao, bầu trời xanh xám như vậy sao lại có đá rơi xuống?
Chỉ vài giây sau, Ngạn thấy có thứ gì đó, đúng hơn là vài vật thể giống đá, rơi xuống thật. Hắn nhìn theo, và nơi những vật đó rơi xuống là phần hậu quân của trung quân.
Có vài tiếng thét, nhưng bị lẫn trong tiếng trống ngũ liên và tiếng hô xung trận của tiền quân.
Ngạn xoay ngựa lại, ra lệnh trống ngưng. Hắn nhìn lên trời, rõ ràng có hàng chục viên đá to bằng đầu người đang rơi xuống. Mỗi viên đá rơi vào đội hình quân đều cướp đi sinh mạng của một người nào đó.
Hậu quân lập tức nhốn nháo khi có thêm hai lượt đá rơi xuống. Dựa theo hướng đá rơi hoặc bay đến, chúng đều từ hướng núi bắn tới.
– Địch quân trên núi!
Ngạn đã phát hiện ra, và hắn thấy có thứ gì đó đang bắn từ lưng chừng núi xuống.
Một quả cầu chông!
Những quả cầu bằng chông to bằng cái rổ từ trên cao bay một đoạn, rồi rơi thẳng xuống đội quân mấy nghìn người.
Trung quân nhốn nháo, nhưng ác mộng mới chỉ thực sự bắt đầu.
Đá hoặc những vật hình cầu to như quả dừa tươi có cùi được bắn ra từ trong làng. Mỗi lượt ba quả, có lượt thì là cầu chông nhỏ.
Điều khiến Ngạn kinh hãi chính là có thứ gì đó vừa hiện ra ngay cột cờ bên trong cổng chính của làng. Ban nãy chỗ đó vẫn là phên tre trát bùn lẫn rơm, mà bây giờ lại là thứ gì đó rất lạ lùng. Sau một tiếng "cạch", một quả cầu chông to đùng bay vèo một cái, hạ gục vài lính ở phía trước cổng.
Kiều Công Ngạn chết lặng trong hàng chục giây vì kinh khiếp.
Tiền quân lộn xộn, trung quân nhốn nháo mất phương hướng. Cứ mỗi phút trôi qua, có ít nhất hai lượt đá, chông và cả gạch nung tròn xoe rơi vào đầu họ.
Tả quân và hữu quân cũng bị tấn công bởi đá bắn ra từ làng Nhị Vạn và Tam Vạn.
Kiều Công Ngạn vội lệnh đánh chiêng lui quân, trong khi mưa đá, chông từ trên cao và từ trong làng vẫn dội xuống xối xả. Hòa lẫn trong đó là vài chục mũi hỏa tiễn bắn theo hình cầu vồng từ trong làng, bay qua ngọn tre.
Binh sĩ hoảng loạn giẫm đạp lên nhau mà chạy. Mệnh lệnh trở nên vô hiệu, và dù có chạy thì họ vẫn bị tên găm vào lưng, đá rơi vào đầu, cùng mỗi quả cầu chông ném xuống cướp đi sinh mạng đôi ba người, khiến vô số kẻ bị thương.
Bốn nghìn quân như ong vỡ tổ, nhắm hướng bờ sông mà chạy bán sống bán chết, nhưng những đạn đá nhỏ vẫn không ngừng bắn chặn đường.
Kiều Công Ngạn trải qua những giây phút hoảng loạn và kinh hoàng nhất trong cuộc đời binh nghiệp của mình.
Cổng chính làng Vạn được hạ xuống, tiếng trống ngũ liên vang lên thùng thùng từng nhịp. Quân Thiên Gia Bảo Hựu theo ba hàng dọc truy kích, với những nữ binh dùng cung nỏ dẫn đầu đội quân, người nào người nấy đều quấn khăn đỏ trên đầu. Hai làng Vạn còn lại cũng đồng loạt đổ quân ra đánh.
Giờ đây, quân số đông không còn là ưu thế mà trở thành nhược điểm, bởi kẻ nào cũng đang khiếp vía muốn thoát thân.
Những khẩu pháo hạng nhẹ được khiêng ra khỏi làng Vạn, tập trung giữa cánh đồng mà bắn đá và chông về phía bờ sông. Cứ sau vài loạt bắn, chúng lại được khiêng lên khoảng năm trượng để bắn tiếp, rồi lại khiêng đi. Mỗi khẩu pháo hạng nhẹ có khoảng hai chục quân sĩ vận hành và bảo vệ.
Nhiều binh sĩ của Kiều Công Ngạn nhảy xuống sông để bơi hoặc bị ngã từ cầu phao xuống. Kiều Công Ngạn cố gắng lập đội hình phòng thủ tại bờ sông, nhưng chín khẩu pháo nhẹ vẫn ném đá tới tấp khiến quân sĩ khốn đốn.
– Mau tiêu diệt thứ kia! Diệt được nó là chúng ta thắng!
Kiều Công Ngạn thét lớn, hô đội thân quân liều chết tấn công. Nhưng họ mới xông lên được khoảng hai mươi trượng thì đạn chông tre lớn từ phía Tây Nam nhắm vào bờ sông khiến binh sĩ nhụt chí.
Kiều Công Ngạn tiến thoái lưỡng nan khi nhận ra kẻ địch sẽ khiêng những thứ vũ khí kỳ lạ đó rút lui nếu hắn tiến lên. Tiến sâu thì sợ đá trên núi rơi vào đầu, nên đành gõ chiêng thu quân thật nhanh. Ngạn và các quân sĩ phơi lưng chịu trận, nhưng điều tồi tệ hơn cả là mấy quả cầu chông bắn rơi xuống bờ sông rồi lăn xuống sông.
Ba trên năm cầu phao bị xô lệch, thang tre rơi xuống sông. Muốn nối lại thì bị đá và chông ném trúng quân sĩ.
Sau trận chiến, hơn ba trăm quân sĩ của Ngạn đã chết đuối. Bảy trăm lẻ người bị bắt làm tù binh, hơn hai trăm người bị thương được Thiên Gia Bảo Hựu trả về. Số tử trận bởi đá, chông tre bắn xuống từ núi, và hỏa tiễn trúng lưng là hơn bốn trăm người.
Sang sông với bốn nghìn tinh binh cờ gióng trống reo, khi rút về chỉ còn khoảng hai nghìn ba người.
Trận đánh diễn ra trong hơn một khắc. Thiệt hại tuy không quá lớn, nhưng nỗi ám ảnh mà đá và chông gây ra cho binh sĩ dưới quyền Ngạn mới thật sự đáng sợ. Bản thân Ngạn không bao giờ dám dẫn quân vượt sông nữa, bởi hắn đã tận mắt chứng kiến thứ binh khí kỳ lạ kia. Thứ vũ khí mà Thiên Gia Bảo Hựu cho ngựa kéo đến bờ sông, bắn đá sang tận bờ Bắc, khiến ba quân phải lùi sâu năm mươi trượng.
Sứ tướng Nguyễn Quốc Khánh tận mắt thấy đội quân thuộc quyền mình vừa mới hùng dũng tiến đánh làng Vạn. Ngay sau đó, chúng đã tan tác như ong vỡ tổ, chạy trối chết trở về. Ông ta không tài nào hiểu nổi cho đến khi những quân sĩ đầu tiên, với gương mặt trắng bệch như từ cõi chết trở về, báo rằng đá và chông từ trên trời rơi xuống đầu.
Tuy nhiên, Kiều Công Ngạn vẫn còn may mắn vì mang được mạng trở về. Nỗi đau thất trận của Nguyễn Quốc Khánh còn kinh khiếp hơn nữa, khi quân trợ chiến bên phía Dương Ngôn cấp báo rằng cầu phao đã bị đốt trên sông, và quân Dương Ngôn e là lành ít dữ nhiều.
Nghe tin đó, Nguyễn Quốc Khánh tưởng như sét đánh ngang tai, đứng không vững.
Nửa năm trước, bọn Chu Diện đi qua hướng đó cũng không trở lại. Giờ đây, hai đạo quân cùng tấn công hai hướng. Dự định là Dương Ngôn, sau khi đánh dẹp bọn ô hợp Thiên Đức, sẽ kéo sang vây công cùng Kiều Công Ngạn. Vậy mà…
– Bằng mọi cách, phải tìm hiểu cho ta xem có chuyện gì ở phía đó, bằng mọi cách!
Nguyễn Quốc Khánh gầm lên tức giận.
Với Lâm Uyển Như, cô cũng không thốt nên lời khi thấy quân Kiều Công Ngạn rút chạy tán loạn khi có thứ gì đó từ trên núi bắn xuống.
– Ngươi thấy chưa, Chi Lan? Dù ta không biết đó là thứ gì, nhưng bây giờ ta biết mình đã đặt cược đúng chỗ rồi.
– Bốn… bốn nghìn tinh binh mà bại trận chỉ trong một khắc, chẳng hiểu vì sao. Tiểu thư, rốt cuộc hắn là thần thánh phương nào vậy?
– Anh ấy không có mặt trong đạo quân này. Bây giờ phải đến Đường Vỹ xem anh ấy có sao không. Quân của Dương Ngôn đánh phía đó, hai nghìn tinh binh mà không rõ Thiên Đức có bao nhiêu quân. Mau lấy ngựa cho ta!
Dù không trực tiếp tham gia, nhưng Lâm Uyển Như cảm thấy như mình cũng đang là một người chiến thắng.
Truyen.free giữ độc quyền đối với bản biên tập mượt mà này, mong quý độc giả ủng hộ.