Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 537: K33/1 và cây báng súng

Những ngày cuối cùng của tháng Chín, trời đổ mưa lớn ròng rã suốt ba ngày, khiến nước các sông dâng cao. Hệ thống đê điều tại phủ Thiên Đức, Ứng Thiên, Tế Giang và Đằng Châu không gặp vấn đề gì đáng ngại. Tuy vậy, nếu mưa lớn tiếp tục kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng ngập lụt cục bộ ở một vài nơi, gây hư hại mùa màng.

Duệ âm thầm đi thị sát vài nơi ở Nam Sách, Kinh Môn và Phượng Sơn nhằm ghi nhận tình hình ngay khi mưa vừa ngớt. Nàng cảm thấy yên tâm dù con nước lớn, đục ngầu phù sa cuồn cuộn chảy, nhưng hệ thống kênh mương thủy lợi nội đồng mà mấy năm nay dày công đào đắp đã phát huy hiệu quả. Dù an tâm phần nào, Duệ vẫn nhận ra rằng cơ nghiệp họ Mạc ngày càng lớn mạnh, cần thêm nhiều nhân tài cùng chung sức. Trước mắt, tin tức từ các vùng như Sơn Nam Hạ, châu Lạng hay Sơn Tây vẫn chưa về đến. Một khi phủ Thiên Đức, Ứng Thiên, Tế Giang và Đằng Châu phát triển ổn định, Duệ nhất định phải dồn lực thúc đẩy nông nghiệp ở các vùng còn lại. Đứng nhìn biển nước mênh mông, Duệ chợt nhớ đến ý định xây cầu cống của Chương. Dù đường sá đã được mở mang rộng khắp, nhà nhà đắp đường, người người đào đất nối liền các làng xã, giúp giao thông thuận lợi hơn rất nhiều, nhưng các con sông vẫn là trở ngại lớn, khiến việc kết nối liền mạch còn dang dở. Cây cầu duy nhất bắc ngang sông Thiên Đức, nối liền hai huyện Thiên Đức và Vũ Ninh, tuy đã đi vào sử dụng và chứng minh hi���u quả, nhưng nước sông dâng cao đã làm hỏng hai nhịp, buộc người dân phải trở lại dùng đò ngang để qua lại.

Sau mấy ngày bồi đắp tình cảm cho hai bà vợ, trời mưa nên Chương dành thời gian làm việc với Phòng Nghiên cứu - Chế tạo Vạn Xuân. Trong quá trình làm việc, Chương dắt theo con gái Thiên Kim, cô bé năm tuổi rất quấn bố. Mỗi lần Chương bế, cô bé theo thói quen sờ cằm nghịch râu của Lý An, nhưng Chương chẳng để râu nên con gái anh chuyển sang vò đầu bứt tai anh. Thiên Kim chỉ ngưng việc quấy Chương khi anh thảy cho cô con gái yêu các món đồ chế tạo dở dang. Cô bé chơi những thứ đồ chơi mới lạ mà trong mắt người lớn, đó sẽ là những món vũ khí chết người một khi hoàn thiện.

Duệ đem những trăn trở ấy nói với Chương khi anh đang ở xưởng chế tạo vũ khí. Chương nói với Duệ:

– Những con sông như Xích Giang, Nhật Đức, Thiên Đức hay Nguyệt Đức rất rộng, với trình độ kỹ thuật hiện tại ta chưa thể xây cầu treo hay cầu kiên cố được, em ạ. Anh đã suy nghĩ kỹ rồi, làm cầu phao vẫn là khả thi nhất. Anh sẽ dùng phao là các thùng rỗng hình tròn bằng sắt, mặt cầu bằng gỗ, xích sắt giằng buộc cố định và có thể di chuyển các nhịp khi thuyền bè lớn qua lại. Đối với những tuyến giao thông huyết mạch, cần cầu lớn phục vụ việc chuyển khí tài, binh mã, loại phao sắt rỗng sẽ được làm lớn hơn. Ngay cả con nước lớn như hiện nay cũng không đáng ngại.

Duệ lập tức đồng tình, nói sẽ báo cáo Bộ Xây dựng để phối hợp làm cầu phao như Chương nói. Duệ lại hỏi thêm:

– Với những con sông như sông Dâu, anh thấy làm cầu trụ đá có được không?

Chương gật đầu, đáp:

– Những cây cầu phục vụ dân sinh, nếu làm trụ đá sẽ rất hợp lý và bền bỉ. Em cứ cho làm thử một cây bắc qua sông Dâu trước. Về nhân lực, cứ bảo Trần Thông lo giúp. Nhớ là mỗi trụ đá đừng cách nhau quá chín trượng, em nhé.

Duệ băn khoăn hỏi:

– Nếu làm tới bốn, năm trụ đá dưới sông như vậy, cần phải có sự hỗ trợ của thủy quân, và còn phải chờ nước cạn nữa.

Chương cười, nói:

– Em là Thủ tướng Chính phủ, em có quyền huy động mọi thứ em cần chứ. Ở quê anh, Bộ trưởng Quốc phòng cũng chỉ là thuộc hạ của Thủ tướng thôi, hiểu chưa Thần phi của anh?

Với Duệ, Chương vẫn luôn ngọt ngào như vậy. Anh dặn thêm:

– Ưu tiên làm cầu ở hướng Bắc trước, vì ta cần nhiều nguyên vật liệu từ mạn ấy, em nhé.

Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ để Duệ lo liệu mọi việc chu toàn.

Sau khi quyết định thành lập lực lượng tinh nhuệ, Chương giao trách nhiệm củng cố việc đào tạo, tổ chức các quân đoàn và quân khu cho các lão tướng cùng bàn thảo kỹ càng. Lý An sẽ dựa trên sơ đồ tổ chức Chương đã vạch ra để biên soạn thành những định nghĩa giản đơn nhất, đưa vào giảng dạy tại trường quân sự cho sĩ quan và hạ sĩ quan. Về phần Chương, anh tiếp tục cải tiến, nâng cấp súng hỏa mai nhằm trang bị cho lực lượng bộ binh chủ lực thuộc Quân đoàn 1 và 2.

Chương ấp ủ cho ra đời mẫu súng K44, nhưng anh chưa thể thực hiện được điều đó vì những hạn chế về kiến thức nền tảng và kỹ thuật của bản thân anh cũng như của thuộc hạ. Tuy nhiên, điều khiến Chương lạc quan chính là những con người anh đã chọn đều thực sự tài năng cùng đôi bàn tay khéo léo. K44 tuy chưa thể hoàn thành lúc này, nhưng nhất định sẽ được hoàn thiện trong tương lai gần.

Trong những năm gần đây, Thiên Đức quân đã khai thác và thu mua rất nhiều gỗ Giá Tỵ từ các thương nhân. Tuy bề ngoài loại gỗ này được dùng để làm thớt, bàn ghế, nhưng thực tế nó được sử dụng để làm báng súng hỏa mai. Binh sĩ Thiên Đức quen gọi gỗ Giá Tỵ là gỗ báng súng, và cây cho loại gỗ này là cây báng súng. Cây báng súng bắt đầu được trồng ở một số vùng tại Mao Khuê, Kinh Môn và Vũ Ninh. Việc kiểm soát Lạng Châu và Vĩnh Yên đã giúp Chương không còn phải mua gỗ báng súng số lượng lớn từ thương nhân nữa.

Chương dựa vào các mẫu súng anh từng biết qua hình ảnh, clip và những mô tả sơ lược đã được ghi chép nhiều năm trước, cùng với khẩu AK hiện có, để tiến hành chế tạo mẫu súng mới. Mẫu K33/1 dựa theo nguyên mẫu súng trường Kammerlarder, sử dụng cơ chế nạp đạn khóa nòng, có núm dưới buồng đốt để đặt hạt nổ, lửa dẫn qua ống nhỏ. Tốc độ bắn tùy thuộc vào tốc độ nạp đạn của xạ thủ. Một xạ th��� thành thục có thể khai hỏa bốn phát trong một phút và hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi mưa gió khi nạp đạn.

K33/1 nặng khoảng sáu cân, chiều dài súng bốn thước (hơn 1,3m), độ dài nòng hai phẩy hai thước.

Dù Chương đã chuyển đổi hệ đo sang mét và kilômét, nhưng thói quen của nhiều thế hệ không thể thay đổi chỉ trong ngày một ngày hai.

Nòng K33/1 có khương tuyến, không dùng loại đạn tròn truyền thống mà chuyển sang đạn có thân hình trụ, đầu đạn hình chóp nón nhằm mang lại độ chính xác cao hơn. Giấy được quấn quanh phần thân trụ, cố định bằng dây len trong các rãnh. Đầu đạn được bôi một lớp mỡ lợn nóng chảy, sau đó thuốc súng được đổ vào phía sau viên đạn và phần đầu đạn được quấn lại. Trong các cuộc thử nghiệm từ đầu năm cho đến gần đây, viên đạn đã có thể xuyên qua miếng gỗ dày 4cm ở khoảng cách 450 mét.

Với trọng lượng sáu cân là khá nặng, Chương mong muốn trọng lượng súng không quá năm cân và chiều dài không vượt quá 1,2 mét, bởi chiều cao trung bình của binh sĩ Thiên Đức chỉ khoảng 1,6 mét.

Mẫu K33/6 ra đời đúng theo yêu cầu của Chương vào thượng tuần tháng Mười năm Thiên Đức 33, với trọng lượng súng 4,9 cân, chiều dài 1,15 mét và độ chính xác trong khoảng 800 mét.

Phần lớn các chi tiết kim loại của K33/6 được đúc tại các phân xưởng thuộc Cục Quân khí, sau đó được ráp thủ công. 500 khẩu K33/6 cùng 5.000 viên đạn đã được trang bị cho Tiểu đoàn Thiên Đức, Trung đoàn 1, Quân đoàn 1 trước khi xung trận.

Phòng Nghiên cứu - Chế tạo Vạn Xuân tiếp tục cải tiến mẫu K33/6 trong các lô sản xuất tiếp theo, dựa trên yêu cầu của Chương và góp ý từ binh sĩ trực tiếp sử dụng súng. Từ đầu năm Thiên Đức 34, mẫu K33/8 bắt đầu được trang bị cho bộ binh Quân đoàn 1 và 2. Đồng thời, nó cũng được tinh chỉnh, cải tiến thành mẫu K33/9 dùng cho thủy quân, với chiều dài súng 125cm và nòng súng 76cm. Mẫu K33/7 ngắn hơn, được dành riêng cho lực lượng kỵ binh. Các mẫu súng hỏa mai trước đó thì được trang bị cho binh sĩ thường trực ở các quân khu. Dựa theo mẫu súng trường K33, một mẫu súng ngắn K33/12 với nòng trơn ngắn và đạn đặc tròn đã được phát triển, trang bị cho chỉ huy cấp trung đội trở lên.

Sơn pháo 75mm tiếp tục được nghiên cứu sâu hơn nhằm tăng độ chính xác, khả năng xuyên phá. Ngoài ra, nó còn được lắp thêm lá chắn bằng kim loại ở mặt trước, gia cố giàn đỡ, và cải tiến cả đạn lẫn khương tuyến. Do đó, trọng lượng sơn pháo 75mm lên đến gần 400 cân, đòi hỏi phải dùng bốn ngựa kéo. Giá pháo cũng được thiết kế thêm các móc để mỗi khi đưa pháo sang sông, sẽ dễ dàng chằng buộc với bè trong trường hợp không có thuyền đủ tải trọng. Việc tinh chỉnh, cải tiến sơn pháo khó khăn hơn nhiều so với súng, nên những khẩu thần công các loại vẫn đảm trách hỏa lực chính.

Dàn hỏa tiễn với sáu, tám hoặc mười hai ống phóng đặt trên giá cứng cũng liên tục được thử nghiệm. Dàn hỏa tiễn có trọng lượng nhẹ hơn pháo, sử dụng đạn tròn, cơ cấu khóa nòng, nạp đạn từ phía sau, tầm bắn thẳng từ 350 đến 500 mét. Mục đích chính là để chống lại kỵ binh, chiến thuật biển người hoặc có thể trang bị trên chiến thuyền.

Địa lôi và thủy lôi cũng được nghiên cứu, chế tạo, trong đó địa lôi dễ chế tạo hơn cả. Các loại địa lôi này được chôn dưới đất, khi người hoặc ngựa giẫm lên sẽ kích nổ. Để giảm chi phí chế tạo, địa lôi được làm vỏ bằng gốm, có hình dạng giống như hai cái đĩa úp vào nhau, được gọi là mìn đĩa, và được sản xuất với số lượng lớn. Mục đích sử dụng địa lôi là để chôn quanh doanh trại dã chiến ở một số khu vực nhất định nhằm chống lại hoạt động trinh sát của đối phương, hoặc chôn trên đường khi phục kích. Thủy lôi trang bị cho thủy quân vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong chế tạo, bởi khi thả trôi trên sông dễ bị ngấm nước, và cơ cấu điểm hỏa cũng chưa thực sự phù hợp.

Lựu đạn vỏ tre được sử dụng đại trà, với cơ chế châm ngòi cháy chậm nhưng chưa có cải tiến đáng kể. Lựu đạn vỏ gang đã thành hình nhưng vẫn chưa thể dùng cho thủy quân. Chương yêu cầu phải có loại lựu đạn dành riêng cho thủy quân, sao cho kể cả trong mưa gió vẫn nổ tốt.

Chiến thuyền hơi nước, xương sống của lực lượng hải quân non trẻ, đã ra mẫu thứ năm và liên tục được cải tiến. Với đ��a hình sông ngòi phức tạp ở những nơi Chương từng đi qua, anh đặc biệt chú trọng phát triển và hoàn thiện các chiến thuyền cỡ trung, cỡ nhỏ, nhằm đảm bảo tính cơ động cùng hỏa lực nhiều lớp. Hiểu biết của Chương về thuyền bè tuy không nhiều, chỉ qua phim ảnh và sách báo, nhưng gần mười năm đôn đốc đóng các loại thuyền gỗ, thuyền bọc đồng, bọc sắt đã giúp anh tích lũy ít nhiều kinh nghiệm thực tiễn. Bên cạnh đó, người dân Tống quốc lại có nhiều kinh nghiệm đóng thuyền lớn. Sự kết hợp giữa kinh nghiệm này với bàn tay khéo léo và khả năng học hỏi nhanh của người Vạn Xuân khiến Chương rất lạc quan về tương lai. Muốn đi xa và nhanh nhất, chỉ có thể bằng đường thủy. Để tiến xuống phương Nam mở mang bờ cõi, cần có những thuyền lớn đủ sức đi biển và đội quân phải có kinh nghiệm hải hành.

Trong khi Duệ đang đắm đuối với việc phát triển kinh tế vĩ mô, Uyển Như lại mê mệt với các cơ hội kiếm tiền (chẳng hiểu để làm gì, có thể chỉ vì đam mê) ở Sơn Tây, dù bụng đã to và buộc phải ở lại Vạn Xuân nghỉ ngơi theo lệnh. Thiên Bình lo kiện toàn tổ chức đảng trong quân đoàn, còn Chương làm việc với Cục Quân khí. Cũng chính vào lúc này, Nguyễn Lạc Thổ đang chuẩn bị tấn công họ Kiều.

Cơn mưa lớn vào hạ tuần tháng Chín đã khiến nước các sông dâng cao, địa hình trở nên phức tạp. Do đó, Nguyễn Lạc Thổ phải điều chỉnh kế hoạch, bố trí và điều chuyển binh mã sao cho phù hợp.

Kiều Liêm đưa ra điều kiện sẽ cống nạp hàng năm cho Vạn Thắng Vương, giống như đã từng làm với Sơn Tây Vương, nhưng đó là điều không thể chấp nhận được. Nguyễn Lạc Thổ yêu cầu Kiều Liêm giải giáp, và cho phép Kiều Liêm cùng quân họ Kiều trở thành một phần của quân Thiên Đức, trấn thủ đất Sơn Vi.

Kiều Liêm lại yêu cầu được phong Sơn Vi Mục, quy thuận Vạn Thắng Vương, được giữ nguyên binh sĩ và nộp thêm ba phần thuế cùng 500 con ngựa mỗi năm.

Vạn Thắng Vương không mặc cả với bất kỳ ai! Nguyễn Lạc Thổ lặp lại yêu cầu giải giáp, đồng thời đảm bảo các quyền lợi tương tự như người đứng đầu một châu, nhưng không phải theo hình thức kế tục mà do Vạn Thắng Vư��ng trực tiếp chỉ định.

Kiều Liêm không đồng ý, ông ta đã huy động thêm binh mã và dân các bản, sẵn sàng cho cuộc chiến một mất một còn với Thiên Đức quân vào thượng tuần tháng Mười, năm Thiên Đức 33.

Bản dịch này là tài sản trí tuệ của truyen.free, được kiến tạo với sự tỉ mỉ.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free