(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 468: Động tĩnh từ phương Nam
Phạm Kính Ân giấu ngựa trong bìa rừng thưa. Lúc này đã quá nửa đêm, trời tối như hũ nút. Trèo lên ngọn cây cao nhìn về hướng Tây, Phạm Kính Ân trông thấy đằng xa một góc trời sáng rực trong đêm, đó chính là mục tiêu anh nhắm đến.
– Từ đây đến nơi đóng quân của Đông Chinh vương khoảng bảy, tám dặm đường, – Phạm Kính Ân nói. – Anh em chia thành bốn nhóm, bám sát nhau. Cần thận trọng vì càng đến gần quân doanh, chắc chắn sẽ gặp các toán tuần tra.
Phạm Kính Ân và hai người thuộc Thân Vệ quân dẫn theo mấy người khác dò đường, ba nhóm còn lại theo sau. Đúng như Phạm Kính Ân nói, càng gần đến nơi có ánh sáng thì gặp nhiều toán quân tuần tra vòng ngoài. Bốn nhóm ẩn mình theo dõi động tĩnh suốt nửa canh giờ, rồi mới quyết định hạ gục hai toán tuần tra để khai thác thông tin, nắm bắt quy luật đi tuần cùng những thông tin cần thiết khác, trước khi dễ dàng hạ gục toán tuần binh thứ ba. Mỗi toán tuần binh chỉ có năm người phụ trách một khu vực nhất định trong hai canh giờ. Phạm Kính Ân bố trí 15 người giả trang làm tuần canh, đeo băng trắng trên cánh tay để nhận ra nhau trong đêm.
Phạm Kính Ân dẫn mọi người luồn lách qua những lùm cây bụi cỏ, vượt qua những gò đống, rồi trườn mình trên các bờ ruộng giữa cánh đồng lúa bạt ngàn. Phạm Kính Ân nhận định, Đông Chinh vương mới tập trung quân về đây nên binh sĩ còn hỗn tạp, nhất thời quân kỷ còn chưa nghiêm ngặt, việc bố trí vọng gác, trạm gác… cũng còn nhiều điểm bất hợp lý, và thực tế đã chứng minh điều đó. Khu vực rộng lớn tập hợp gần 2 vạn binh mã sáng rực đèn đuốc. Phạm Kính Ân và đồng đội nằm phục trong lùm cây theo dõi động tĩnh. Anh cần phải nắm rõ cách bố trí lực lượng của địch trên một khu vực rộng lớn. Sau gần nửa canh giờ mật phục không uổng công, Phạm Kính Ân phát hiện một người vận giáp trụ, lững thững vạch trướng đi về khu vực có lẽ là nơi vệ sinh.
Nơi vệ sinh cho 2 vạn người nằm ở cuối hướng gió, nơi ấy là bìa rừng tương đối rậm rạp và thiếu ánh sáng.
– Người ấy hẳn là chỉ huy quân pháo! – Một binh sĩ Phùng doanh nằm phục cạnh bên giải đáp thắc mắc của Phạm Kính Ân. – Dựa vào chiến y, tôi đoán như vậy.
– Nhất thiết phải bắt được thằng ấy khai thác thông tin.
Dứt lời, Phạm Kính Ân dẫn theo mấy người lom khom sau những lùm cây. Gần đến khu quây liếp, mùi xú uế phảng phất theo gió. Nếu như mấy năm trước, khi đóng quân tạm, tướng sĩ đại tiện tứ lung tung, thì hiện nay việc đại tiện cần phải đúng nơi, tránh lây lan bệnh tật. Phạm Kính Ân cùng hai người thuộc Thân Vệ quân đổi y phục với ba binh sĩ khác, buộc băng trắng l��n bắp tay, rồi luồn qua những bụi cây, thản nhiên đi vào khu vực vệ sinh, nơi canh gác vô cùng lỏng lẻo, đúng hơn là hầu như không có lính canh. Khu vực quây liếp rộng hàng trăm mét vuông, hàng trăm người ra vào liên tục nên không tiện hành động. Nhóm Phạm Kính Ân đành quay ngược trở ra, đứng chờ ở gần lối ban nãy người kia đã đi vào. Vị tướng quân giải quyết xong nỗi buồn vội vã bước ra, chẳng hề để tâm đến ba gã lính đang túm tụm ven một lùm cây, thì thầm to nhỏ. Vị này vừa đi ngang qua bỗng có kẻ vỗ vai:
– Này anh bạn!
Vị tướng này tỏ ra bực dọc, dừng chân ngoái lại định quát mắng phường vô lễ, nhưng ông ta còn chưa kịp nhìn rõ mặt ba người thì đã lãnh trọn một cú đấm thôi sơn vào giữa mặt. Đôi chân lảo đảo lùi lại vài bước, ông tướng bị quét chân, ngã ngửa. Ú ớ chưa kịp kêu la thì đã bị một miếng giẻ rách nhét chặt vào miệng. Một người xốc hai chân, một người xốc hai tay, khiêng vị tướng khốn khổ khuất dạng sau lùm cây mà chẳng ai hay biết. Phạm Kính Ân lột giáp trụ người này, túm cổ hỏi tên tuổi, quê quán. Mỗi câu hỏi đều kèm theo một cú đấm, khiến ông tướng mềm nhũn, đau đớn mà phải khai sạch bách.
– Các cậu cật vấn nó, tớ sẽ trà trộn vào bên trong xem xét. Hẹn nhau ở cái cây đằng kia nhé.
Đồng đội đưa cho Phạm Kính Ân 5 quả lựu đạn, Ân giấu trong cạp quần. Ân giắt thanh chủy thủ hình dáng như lưỡi lê AK sau lưng. Dặn dò đâu đó xong xuôi, Ân quay lại khu nhà đại tiện rồi từ đó ung dung trở lại quân doanh. Trong vai một chỉ huy thuộc quyền Ngô Tất Sắc, Phạm Kính Ân mau chóng tìm đến trận địa pháo được bố trí trên hai gò cao ngắm sẵn cổng thành phía Bắc. Mỗi trận địa đều bố trí hơn trăm khẩu Cự thạch pháo, Phạm Kính Ân khẽ rùng mình, rồi lần mò tìm xuống trận địa pháo mới được thiết lập đối diện cổng thành. Thi thoảng, đạn đá từ trong thành bắn ra mang tính cầm canh, như muốn nhắc nhở quân tấn công hãy dè chừng. Quan sát địa thế đâu vào đó xong xuôi, Phạm Kính Ân trở ngược lên trận địa pháo trên cao. Anh định tìm cách phá hoại, nhưng ngẫm đi ngẫm lại, anh thấy năm quả lựu đạn sẽ chẳng thể mang lại nhiều kết quả. Như vậy, chỉ còn cách quấy phá, tạo hỗn loạn ở hai trận địa chính, thu hút chú ý của ba quân rồi sau đó tính tiếp. Sau nhiều lần ngẫm đi ngẫm lại, Phạm Kính Ân nảy ra một kế hoạch. Lúc này, áng chừng đã qua đầu trống canh Năm. Ngoài binh sĩ trực gác, đa phần quân chiến đấu đều đang ngủ tại chỗ. Chỉ một chốc nữa, quân hậu cần sẽ dậy nhóm bếp thổi cơm sáng.
Phạm Kính Ân đến cạnh một Cự thạch pháo xem xét cách vận hành, nhận thấy chẳng khác là bao so với Cự thạch pháo Thiên Đức, thậm chí còn có phần lạc hậu hơn. Phạm Kính Ân giấu nụ cười đắc ý, tản bộ ra tiền tuyến quan sát, ước lượng khoảng cách, rồi trở lại khẩu pháo đã ngắm nghía trước đó. Phạm Kính Ân chỉnh tầm bắn gần, khéo léo lăn bánh xe để hướng khẩu pháo lệch sang bên trái độ một gang tay. Nhận thấy công việc thuận lợi, Phạm Kính Ân, trong vai một chỉ huy khẩu đội pháo, đã chỉnh tầm bắn của hơn hai mươi khẩu Cự thạch pháo. Nếu chúng nhả đạn, thay vì bắn vào thành, những quả đạn sẽ dội thẳng xuống khu vực trận địa pháo đối diện cổng thành. Trong khi Phạm Kính Ân táy máy, các xạ thủ vẫn ngáy khò khò.
Tiếp theo, Phạm Kính Ân lẩn vào một khoảng tối sau lùm cây, mon men bò gần đến sườn gò cao, mồi một quả lựu đạn rồi ném mạnh về phía dưới. Vài giây sau, tiếng nổ chát chúa ven trận địa pháo đặt dưới thấp khiến quân canh đang gà gật và quân tuần gọi nhau í ới, cảnh báo quân trong thành Sơn Tây có thể xông ra. Phạm Kính Ân chạy ào vào, vừa nói vừa chỉ về phía thành Sơn Tây, giọng vô cùng gấp gáp:
– Bắn mau, bắn mau! Quân trong thành đang xông ra ngoài!
Binh sĩ vừa tỉnh giấc hãy còn lơ mơ chưa hiểu đầu đuôi câu chuyện ra sao, các chỉ huy khẩu đội còn đang nghe ngóng. Thấy Phạm Kính Ân giục, lại nghĩ là thật nên cho khai hỏa. Kính Ân vừa chạy vừa hối thúc, giục bắn thật mau. Nguyên lý của pháo là bắn không cần nhìn, tầm đạn đã được chỉnh sẵn, cứ thế mà khai hỏa thôi. Một phần năm số Cự thạch pháo trên gò bên hữu, theo cách bố trí của Ngô Tất Sắc, đã dội đạn đá xuống đầu đồng đội. Trời tối, trận địa bên dưới nhốn nháo. Binh sĩ, kẻ thì ôm đầu bỏ chạy khi bị đạn đá từ trên dội xuống, người thì gào thét, số khác lại nghĩ là quân trong thành bắn ra… bên trên thì vẫn hăng say bắn yểm trợ. Phải sau gần hai chục loạt đạn, sự nhầm lẫn mới được phát hiện nhưng đã hơi muộn. Mấy trăm quả đạn đá rơi từ trên cao xuống gây thiệt hại hàng trăm nhân mạng chưa kể số người bị thương mà chẳng thấy bóng dáng quân trấn thành xông ra. Ngô Tất Sắc đến tận nơi xem xét tình hình, nghe các xạ thủ đều khẳng định Đinh Huynh là người đã hối thúc nổ súng.
Ngô Tất Sắc cho tìm Đinh Huynh nhưng chẳng thấy đâu. Hắn cho rằng Đinh Huynh làm phản và ra lệnh bắt được sẽ xử sau.
Phạm Kính Ân đến điểm hẹn thông báo tình hình rồi cả bọn quyết định đánh thêm một vố lớn vì sắp đến giờ thổi cơm sáng. Dựa vào lời khai của vị tướng bị bắt giữ, Phạm Kính Ân lại chia quân thành bốn nhóm để đột nhập vào đại bản doanh dùng hỏa công. Phải nói rằng, việc đột nhập của Phạm Kính Ân không khó khăn khi chiến y của họ giống nhau, quân lính mới trưng tập lại đông đảo từ tứ phương nên nề nếp hãy còn chưa được thiết lập. Phạm Kính Ân nhắm đến một kho lương, ba nhóm còn lại nhắm đến khu chuồng ngựa, khu bếp ăn và một kho lương khác. Chuồng ngựa có đến mấy trăm con, cỏ khô chẳng thể thiếu nên trước khi phóng hỏa, nhóm tiềm nhập hạ gục một số lính canh, mở cửa một số chuồng rồi chia nhau phóng hỏa ở đầu hướng gió. Đêm hè hanh khô, chỉ trong phút chốc khu chuồng ngựa cháy rực một góc rồi lan nhanh. Nhóm tiềm nhập tiếp cận khu vực lán trại dựng làm bếp song không thể thực hiện nhiệm vụ vì lúc này quân hậu cần đã lục tục dậy vo gạo nấu cơm. Gặp may phát hiện hai chum đựng dầu đốt đèn, bèn đổi mục tiêu. Cả nhóm khiêng hai chum này đến hai lều trại gần đó, phóng hỏa rồi rút lui. Phạm Kính Ân và nhóm còn lại hoàn thành được nhiệm vụ đốt kho lương. Ba quân dưới quyền Đông Chinh vương phải dập lửa mãi đến sáng mới xong. Hai kho lương chỉ còn là đống tro tàn và khu chuồng ngựa bị cháy phân nửa.
Binh sĩ tìm được Đinh Huynh bị trói như lợn, miệng nhét đầy giẻ rách, nằm còng queo bên ngoài doanh trại. Từ đó, quân lính mới biết có một toán quân đã đột nhập gây loạn. Đông Chinh vương, Dương Sàn, Tĩnh Mịch Thiền sư, Trần Bá Tiên và Ngô Tất Sắc lấy làm lo lắng, bèn hạ lệnh bố phòng cẩn thận hơn bằng cách tăng cường quân cảnh giới. Cả bọn mới nghị bàn xong thì nhận tin cánh quân Nguyễn Khắc Tỵ đã bị đánh bại bởi Phùng Thanh Hòa và Trinh Phù quân, Nguyễn Khắc Tỵ đã bị chém đầu, quân lính tan rã. Đông Chinh vương lo lắng, nhưng Trần Bá Tiên đã trấn an. Theo kế của Trần Bá Tiên, Đông Chinh vương cử Đặng Nguyên dẫn hai nghìn tinh binh xuất doanh tiến theo đường vòng cung, hòng chiếm lại vị trí mà Nguyễn Khắc Tỵ đã để mất. Giả như thành Sơn Tây vỡ, quan tướng nhất định sẽ chạy về phía Đông, khi ấy Đặng Nguyên sẽ thừa cơ chặn đánh hoặc truy kích.
Đặng Nguyên nhận lệnh, dẫn binh rời trại, tiến về hướng Đông vài dặm rồi ngoặt xuống phía Nam vào lúc xế trưa. Phạm Kính Ân cùng toán tiềm nhập nghỉ ngơi trong rừng. Khi từ xa trông thấy bóng kỳ và đoàn quân đông đảo, họ liền bám theo. Mãi đến chập tối, họ mới biết đó là quân của Đặng Nguyên. Mãi đến quá nửa đêm, Đặng Nguyên mới cho quân tản ra tạm nghỉ ven một quả đồi thấp. Phạm Kính Ân một lần nữa lợi dụng đêm tối nằm phục, tóm được cả thảy 18 binh sĩ và một tiểu tướng. Căn cứ lời khai của những người này, Phạm Kính Ân biết Nguyễn Khắc Tỵ và quân sĩ Tả vũ vệ đã bị xóa sổ. Từ đó, Ân suy luận Đặng Nguyên dẫn binh mai phục ở đây ắt hẳn là để chờ. Nếu thành Sơn Tây vỡ, trong thế bị vây công ba mặt, Sơn Tây vương chỉ còn cách chạy về ngả này. Ngay lập tức, Phạm Kính Ân cử mấy người về thành Sơn Tây cấp báo, còn bản thân anh cùng những người khác ở lại tiếp tục theo dõi di biến động của Đặng Nguyên. Đặng Nguyên điểm quân biết bị thiếu hụt, chỉ còn cách im lặng, siết chặt quân kỷ không để ai trốn thoát nữa.
– Anh không phải người Sơn Tây! – Mấy binh sĩ đi cùng Phạm Kính Ân nói. – Anh và mấy anh kia hành sự rất kín kẽ và vô cùng nhanh nhẹn, lại có thêm vũ khí lạ, thứ này nghe nói chỉ Thiên Đức mới có.
Phạm Kính Ân giải thích:
– Bọn tôi là quân hầu của Nguyễn Nhân Nghĩa đại nhân. Đại nhân mấy lần đi sứ Thiên Đức nên vị Vương sứ ấy tặng cho làm quà phòng khi hữu sự. Nỏ Liên Châu và Cự thạch pháo chẳng phải do Thiên Đức tặng chúng ta ư? Sơn Tây vương có giao tình với Vạn Thắng vương, bởi Đại Thắng Lý Hoàng hậu chính là Công chúa tiền triều.
Ai nghe cũng cho là đúng.
– Nói vậy mấy anh từng đến Thiên Đức chưa? Tôi nghe người ta nói bên Thiên Đức khác Sơn Tây lắm. Tôi từng nghe chuyện Vạn Thắng vương lúc mới dựng cờ đã dẫn binh xuất quỷ nhập thần trợ giúp Sơn Tây.
Phạm Kính Ân cùng đồng đội khéo léo tuyên truyền về quân Thiên Đức, về Vạn Thắng vương cho binh sĩ trong nhóm rồi đưa ra một giả thuyết:
– Sơn Tây vương đang trong cảnh nguy khốn, có khi nào Vạn Thắng vương lại đem binh đến cứu?
Chẳng binh sĩ nào phản đối, bởi họ không hiểu biết nhiều, vả lại, em rể giúp anh vợ cũng là điều nên làm, có gì đâu mà lạ. Trong khi Phạm Kính Ân ẩn náu theo dõi Đặng Nguyên và tuyên truyền đường lối thì cách xa về phía Đông Nam vài chục dặm cũng có động tĩnh. Động tĩnh này xuất phát từ La Thành.
Nhân lúc Sơn Tây bạo loạn, Lý Mẫn muốn thừa nước đục thả câu, lệnh cho ba trại ở vùng giáp ranh chiếm cứ các làng mạc không còn quân binh Sơn Tây trấn giữ. Lý Mẫn đã định huy động đại quân từ La Thành Bắc tiến, song chùn bước bởi động tĩnh của Bàn Phù Sếnh. Bàn Phù Sếnh cho đóng liền một lúc 5 thủy trại nối tiếp nhau bên bờ tả ngạn, quân sĩ trên các thuyền phô trương thanh thế như thể có thể vượt sông bất cứ lúc nào mà chẳng cần lý do. Lý Mẫn lo ngại rằng, một khi đại binh xuất chinh, Bàn Phù Sếnh sẽ đánh sang. Thủy quân La Thành có thể chống cự được, nhưng nếu Thiên Đức điều thêm đại quân từ phủ Thiên Đức theo sông Thiên Đức tấn công La Thành từ phía Tây Nam sẽ vô cùng nguy hiểm. Tô Trung Từ sai sứ sang Thiên Đức đề nghị tạm thời hòa hoãn, đổi lại sẽ hoàn toàn từ bỏ ý định chiếm lại thành Côn Lôn. Sứ giả đi chưa về, vả lại Bàn Phù Sếnh không phải người dễ nói chuyện, nên Lý Mẫn hãy còn trù trừ chưa quyết được.
Bên cạnh đó, Tô Trung Từ cũng sai sứ gặp Nguyễn Ninh vương, đưa ra lời đề nghị khá hời, đó là cho Nguyễn Ninh vương mượn đường thủy bộ để đưa quân ứng cứu Quảng Trí quân đang ở thế ngàn cân treo sợi tóc. Nguyễn Ninh vương tất nhiên chớp lấy cơ hội này, triệu Nguyễn Từ Minh đến, lệnh cho Từ Minh chuẩn bị thủy quân cứu viện Tam Đái. Nguyễn Từ Minh vô cùng hăm hở trở về bản doanh, đốc thúc tướng sĩ chuẩn bị xung trận rửa hận.
Chưa thể xuất đại binh, Lý Mẫn cũng không ngồi yên. Ông lệnh cho các đạo quân trấn giữ vùng biên ải giáp với Sơn Tây, đặc biệt là các doanh ở Đông Bắc, chớp thời cơ đánh chiếm các vùng Sơn Tây đang bỏ ngỏ, do binh lực Sơn Tây đều đang dồn về trận sinh tử ở thành Sơn Tây. Song song với đó, Lý Mẫn cũng cho sứ giả tìm gặp Đông Chinh vương và cả Trần Văn Lộng thương lượng. Lý Mẫn không đánh giá cao Trần Văn Lộng về cơ mưu, vì Lộng là một tay võ biền. Lý Mẫn sẽ ủng hộ nhân lực và vật lực cho Trần Văn Lộng, đổi lại, khi Lộng giữ chức Sứ tướng sẽ cắt đất tám xã ở phía Đông Nam Sơn Tây cho La Thành.
Trần Văn Lộng vừa mất Tả vũ vệ Nguyễn Khắc Tỵ, quân thuộc quyền chưa đến hai nghìn người nên có phần dao động. Mưu sĩ Đương Chu mách với Lộng cứ nhận lời, bởi vùng Đông Nam của Sơn Tây tiếp giáp với La Thành và vùng Đỗ Động Giang. Bỏ cái nhỏ để được cái lớn mới là người mưu việc lớn. Trần Văn Lộng nghe theo, đồng ý với lời đề nghị của Lý Mẫn. Lý Mẫn âm thầm điều động gần hai nghìn binh mã trong ba doanh tiếp giáp Sơn Tây, giao cho Đào Công Sự thống lĩnh, lần lượt tiến đến các vùng đất trọng yếu.
Truyện dịch này được cung cấp độc quyền bởi truyen.free, nghiêm cấm sao chép dưới mọi hình thức.