(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 261: Lấy đồ trong túi
Trần Công Tích và Đặng Sỹ Nghị ra sức gọi hàng, nhưng đáp lại chỉ là những lời lẽ thoá mạ cùng mưa tên bắn tới tấp. Chương ngồi trên ngựa, che miệng ngáp dài, đoạn nói với Duệ:
– Thôi, họ chưa ngoan thì…
Duệ hiểu ý, thúc bạch mã chạy lên trước truyền lệnh. Hàng chục cỗ hỏa pháo ngang nhiên được đẩy đến gần hào nước, bắn những viên đạn cháy và ph���t dầu sôi lên mặt thành. Bắn một hồi, lầu cao trên cửa Nam bắt đầu bốc cháy, quân sĩ trấn giữ trên tường thành nhốn nháo dạt ra xa.
Trần Công Tích lại ra sức gọi hàng song vô ích.
Quân của Đặng Sỹ Nghị huy động được mươi chiếc thuyền chài, khiêng đến bờ sông Kinh Môn. Một binh sĩ của Nghị chèo một chiếc thuyền, chở theo bốn đến sáu binh sĩ Thiên Đức, men theo bờ sông dùng hỏa mai ngắm bắn thủy quân của Lê Hoan nhằm quấy phá. Quân của Hoan tức khí lấy thuyền truy đuổi. Nhưng những khẩu thần công đặt sẵn ven bờ đã rót vài loạt đạn, khiến một chiếc thuyền của Hoan bị chìm và buộc phải rút lui.
Tiếp đó, quân Thiên Đức đắp nhiều ụ đất quanh thành, dựng hàng trăm thang tre cao hơn một trượng, từ đó có thể nhìn vào trong thành hoặc dùng hỏa mai ngắm bắn binh sĩ trên mặt lũy thành.
Thủy quân Thiên Đức do Yết Kiêu tự tay huấn luyện, cử năm mươi quân có khả năng bơi lặn tốt từ Hiến Doanh đến, sẵn sàng đợi lệnh nhập trận. Toán thủy quân này lợi dụng trời tối, chia thành các nhóm ba đến năm người, ôm lấy thân chuối bơi xuôi dòng, mang theo quả nổ và hỏa hổ. Hơn chục nhóm thủy quân đã tiếp cận các chiến thuyền ở vòng ngoài trại thủy, dùng hỏa hổ và quả nổ gây cháy, làm hư hại bốn thuyền lớn.
Thủy quân của Lê Hoan nháo nhác, tăng cường bố phòng, song thủy quân Thiên Đức không tập kích thêm trận nào nữa. Mục đích của thủy quân chỉ cốt gây hoang mang, nao núng là chính.
Quân Thiên Đức chọn hướng tấn công chính ở cửa Nam. Dưới sự yểm trợ của thần công và hỏa pháo, quân của Nghị dễ dàng vượt hào nước, áp sát cổng thành mà không bị tổn thất binh lính. Cùng lúc đó, quân Thiên Đức dùng thang tre, thang dây leo lên mặt lũy cổng phía Nam. Từ vị trí này, hai nghìn tay súng tỏa ra hai bên, dùng hỏa mai và quả nổ trấn áp, dồn ép quân trấn giữ thành về phía sau, tạo điều kiện cho quân của Nghị nhập thành.
Hàng trăm mái nhà trong thành bốc cháy. Nghị dẫn quân tiến vào thành dưới tầm bắn yểm trợ của hỏa pháo, thần công và hỏa mai, nên thương vong không đáng kể.
Quân trong thành chống không nổi, có dấu hiệu tan vỡ. Trần Công Tích và Đặng Sỹ Nghị đã tiếp nhận sự quy hàng của hơn nghìn binh sĩ. Bọn Lê Khả chặn hậu để Lê Hoan thoát thân theo lối cửa Bắc, nơi có trại thủy. Quân Thiên Đức trên mặt thành ném quả nổ vào giữa đám đông đang cố thủ, gây thương vong lớn. Hết đường chạy, quân của Khả hạ khí giới, quy hàng từng nhóm. Trong khi đó, Lê Hoan lên được thuyền, thúc quân chèo về hướng sông Đá Vách, bất chấp những khẩu thần công trên bờ liên tục nhả đạn bắn đuổi.
Chỉ hơn ba nghìn quân lên được thuyền thoát chạy cùng Lê Hoan, một phần vì thuyền không đủ, phần khác vì quân Thiên Đức đánh quá rát.
Lê Khả giả trang làm quân sĩ, lợi dụng sự nhốn nháo ở trại thủy để trốn chạy, nhưng bị quân sĩ của Nghị tóm được, dẫn trở vào thành nhốt chung với tù binh. Ba ngày sau, Phạm Bỉnh Di dẫn theo hai trăm người của Ty Công an đến, kết hợp với quân của Nghị thẩm vấn từng người, cốt để phân loại thành ba nhóm:
Loại thứ nhất: tuổi dưới hai mươi hai, sẽ được dẫn giải về Thiên Đức phủ để lao động cải tạo. Số lượng này gần hai nghìn người.
Loại thứ hai: tuổi dưới ba mươi, giao cho Đặng Sỹ Nghị cai quản, kiểm đếm được gần hai nghìn người.
Loại thứ ba: lính trên ba mươi tuổi sẽ được cho về quê quán cấy cày. Khi xét đến nhóm này, Lê Khả bị phát hiện vì không có tên trong sổ quân. Phạm Bỉnh Di gọi Đặng Sỹ Nghị đến nhận mặt, Lê Khả xin tha mạng.
Bỉnh Di và Sỹ Nghị trình trường hợp này lên Chương. Bởi Lê Khả là người Hải Đông, trên danh nghĩa vẫn thuộc quyền của Trần Công Tích. Chương để Tích tự quyết, nhưng Tích lại để Nghị toàn quyền định đoạt. Nghị vui như mở cờ trong bụng, tặng Lê Khả một đao.
Ngoài ra, có hơn ba chục đạo đồng của Mao đạo sĩ, non phân nửa là người Vạn Xuân, còn lại là người Hoa quốc. Nghị hỏi ý Chương về cách xử trí, Chương đáp:
– Đất Vạn Xuân chứa người Vạn Xuân.
Đạo đồng người Hoa quốc bị chặt đầu tất cả, những kẻ còn lại được tha bổng cho về.
Duệ, Lam Khuê trở về phủ Thiên Đức cùng Tiểu đoàn Thần Vũ, đem theo nhiều giấy tờ, bạc vàng, sổ quân, sổ khẩu cùng một nửa lương thảo thu được. Phạm Bỉnh Di cũng về cùng, số tù binh được tân binh áp giải theo sau. Võ Văn Dũng ở lại thành Kinh Môn nắm thêm tình hình và tuyển người bản địa làm việc cho Ty Công an.
Lý Công Thành dẫn Tiểu đoàn Luy Lâu hộ tống Uyển Như đến Ninh Hải. Uyển Như ở Ninh Hải ba ngày, sau đó Tiểu đoàn Thuận Thiên quân địa phương cùng vài trăm tân binh hộ tống Uyển Như về phủ Thiên Đức.
Trần Công Tích một lần nữa xin quy thuận, đem sổ bộ, giấy tờ, tài vật và gia nhân ở An Sơn phủ dâng lên. Chương chỉ nhận sổ bộ và giấy tờ liên quan, tài vật thì không nhận, mà dặn Tích nên dùng một ít khao quân. Số gia nhân hơn ba trăm người từng phục vụ cho Trần Minh công, ngoại trừ những người muốn ở lại, còn lại đều được ban thưởng và cho về quê cũ làm ăn.
Đặng Sỹ Nghị nhận nhiệm vụ trấn thủ Kinh Môn thành với ba nghìn quân sĩ. Để Nghị an lòng, đề phòng bọn Lê Hoan có thể quay lại, tạm thời Chương bố trí Tiểu đoàn Tam Vạn đóng ở An Sơn phủ, bên kia sông Kinh Sư.
Trần Công Tích một mực muốn theo về Thiên Đức phủ. Chương lấy làm lạ, bèn hỏi rõ đầu đuôi, Trần Công Tích mới tâu rằng:
– Thưa Vương! Thầy của tôi là Phạm Sư Mạnh khuyên tôi nên về phủ Thiên Đức, trở thành dân Thiên Đức. Thầy tôi quả quyết Vương sẽ không bạc đãi mà sẽ trọng dụng tôi vì Thiên Đức trọng hiền tài. Ngôi vương sứ này vốn không thuộc về tôi, chỉ vì huynh trưởng mất sớm, cháu còn nhỏ dại nên tôi mới được có phần. Nay Vương dẫn quân đến giúp theo lời thỉnh cầu, thiết nghĩ vô công bất thụ lộc. Tôi một lòng một dạ theo Thiên Đức ngoài việc tìm đường cho mình cũng là để tạo phúc cho bách tính Hải Đông này.
– Tại sao lệnh sư của công tử lại dạy như vậy? Ta thực sự tò mò. Chả hay Phạm lệnh sư năm nay bao nhiêu tuổi?
– Thầy tôi năm nay được ba mươi bảy tuổi, tên húy là Phạm Sư Mạnh, tự Nghĩa Phu, từng đỗ thái học sinh tiền triều nhưng cáo quan về quê dạy học cho vương tôn công tử khắp Hải Đông. Chẳng dám giấu Vương, thầy tôi bảo rằng Vương rồi sẽ thống nhất được các sứ quân, lên ngôi thiên tử. Tôi theo ngài chắc chắn sẽ toàn điều tốt đẹp, tôi cũng cho là phải.
Chương nghe Tích nói vậy bèn cười mà rằng:
– Nay việc còn nhiều, công tử cứ ở tạm An Sơn phủ úy lạo dân chúng giúp ta. Ta còn phải về phủ Thiên Đức để đưa hài cốt nhạc mẫu đến thôn Thủy Đường. Công tử giúp ta gặp Phạm lệnh sư diện kiến tôn nhan, liệu có được chăng?
– Thầy tôi vẫn ở làng Hiệp Sơn, nếu biết Vương đến nhất định thầy tôi sẽ lấy làm mừng được tiếp đón.
Chương thấy Trần Công Tích ăn nói lưu loát vốn đã ưa thích ngay từ đầu. Nay thấy Tích có thầy giỏi nên rất muốn gặp. Đoạn Chương hỏi Tích:
– Công tử đã có hôn thê chưa nhỉ?
– Thưa Vương, tôi còn chưa có danh gì với núi sông nên chưa dám nghĩ đến.
– Ta có một nghĩa muội năm nay vừa đôi chín, dung mạo xinh đẹp, thông minh hơn người. Nàng ấy theo ta từ lúc dấy binh, nay giữ việc quân cơ. Nếu công tử thuận lòng, ta sẽ sắp xếp một cuộc gặp, thế nào?
– Tạ ơn Vương, nếu đó là người Vương chọn, tôi nhất định sẽ thuận.
Chương tặc lưỡi, vỗ vai Tích mấy cái, nói:
– Đừng vậy, ta chỉ sắp xếp cho hai bên gặp. Công tử ưng thuận cũng còn phải xem nàng ấy có ưng hay không. Thiên Đức phủ vốn tôn trọng tình cảm lứa đôi mà.
– Thưa Vương, chả hay cô gái đó tên họ là gì?
– Mạc Thái Hương.
– Ồ, thưa Vương, nghĩa muội mang họ của ngài?
– Trong số quân sĩ trạc tuổi công tử, ta mới chỉ tin yêu Mạc Thái Hương và Trần Nhật Tôn. Tôn thì công tử đã gặp nhiều lần rồi. Chả giấu gì công tử, ta từng muốn tác hợp cho hai người đó thành đôi song cả hai thân thiết từ lúc chăn trâu cắt cỏ nên không nảy sinh tình yêu đôi lứa. Tôn đã có ý trung nhân và thành thân hồi đầu năm. Mạc Thái Hương… – Chương thở dài. – Chỉ cắm đầu vào công việc, ta thấy lo.
– Vương nói vậy khiến tôi tò mò.
– Được, công tử sẽ sớm gặp.
Yết thị được dán khắp xứ Đoài, tuyên bố trấn Hải Đông thuộc quyền kiểm soát của Thiên Đức phủ, khuyến cáo bách tính yên tâm làm ăn, miễn toàn bộ thuế phải nộp đến hết năm. Quân sĩ nhũng nhiễu sẽ bị xử tội nặng. Các chức quan cai quản từ phủ xuống thôn làng vẫn được giữ nguyên, chờ nay mai sắp xếp. Tất cả phạm nhân đang giam giữ trong các lao phủ đều được giảm nhẹ tội hoặc tha bổng.
Từ Kinh Môn thành về đến bến Bình Than, cứ mỗi mười dặm lại đặt một trạm gác với hai mươi quân nhằm truyền tin bằng ngựa và bồ câu. Bách tính Hải Đông chạy loạn sang Thiên Đức được tùy ý lựa chọn nơi sinh sống; hơn một nửa dân trở về làng cũ, một số xin ở lại và lập thành làng Hải Đông thuộc huyện Thuận Thiên.
Theo ý kiến tham mưu của Ái phi Lâm Uyển Như, Chương điều năm trăm bộ binh gốc gác huyện Kim Động mới huấn luyện xong đi cùng Tiểu đoàn Kim Động để tăng cường cho Trung đoàn Thần Sách trấn thủ Ninh Hải. Phạm Cự Lượng là tổng chỉ huy trấn thủ Ninh Hải. Ngoài quân Thiên Đức đưa đến, còn có một nghìn quân bản bộ do Lý Trí Thắng để lại. Điều này nâng tổng số quân bộ binh Thần Sách đồn trú tại Ninh Hải lên ba nghìn năm trăm người, cùng năm trăm thủy quân thuộc Tiểu đoàn Vạn Ninh của Hoàng Thái Công.
Lý Trí Thắng dẫn theo hai nghìn quân về Thiên Đức, giao một nửa cho Trương Lôi huấn luyện, số còn lại theo Thắng đến, trám vào vị trí mà Tiểu đoàn Kim Động để lại. Trương Lôi huấn luyện xong xuôi số tân binh ấy, bèn giao thêm cho Thắng năm trăm quân, đủ để thành lập Trung đoàn Ninh Hải. Năm trăm quân còn lại được Trương Lôi “pha loãng” theo chủ ý của Chương, chia về các trung đoàn khác.
Chương thành lập Trung đoàn Kinh Môn, Đặng Sỹ Nghị là E trưởng, với quân số hai nghìn bộ binh. Số bộ binh còn lại ở Kinh Môn tiếp tục được pha loãng vào các đơn vị quân Thiên Đức ở khắp các nơi.
Thiên Đức đã có đường thông ra biển nhưng dòng sông Thiên Đức hãy còn tắc một quãng, thuộc phần đất của Vũ Ninh vương. Tình hình Hải Đông chưa ổn định, quân sĩ Thiên Đức đã giao chiến nhiều trong khoảng thời gian ngắn nên Chương muốn tính kế sách thông dòng mà không cần động binh.
Việc Thiên Đức chiếm Kinh Môn và Ninh Hải khiến Vũ Ninh vương có những dự cảm không lành. Thành Kinh Môn to gần bằng thành Bát Vạn, quân Thiên Đức chiếm được mà chẳng hao tổn binh lính, khiến không chỉ Vũ Ninh vương lo sợ mà các sứ quân khác cũng đứng ngồi không yên.
Trần Nhật Tôn báo cáo, ở châu Đại Hoàng có nạn binh đao.
Bản chỉnh sửa này thuộc về truyen.free, góp phần gìn giữ những câu chuyện hay.