(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 213: Đại đoàn Thiên Đức
Song song với cuộc tổng điều tra dân số lần thứ nhất, Chương dựa vào sổ sách thu được của Lý Lệnh công để rà soát lại đất đai toàn vùng. Ty Thông tin đã vẽ lại bản đồ Siêu Loại, sau đó giao cho quân Thiên Đức bố trí người kiểm tra, đối chiếu và điều chỉnh lại một lượt cho sát với thực tế.
Chương quyết định đẩy mạnh phát triển nông – ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp, kèm theo những cải tiến cần thiết, nhằm thay đổi bộ mặt toàn vùng Siêu Loại. Mục tiêu Chương đặt ra là đến cuối năm Thiên Đức 30, nền kinh tế phải trở thành nền tảng vững chắc, giúp Thiên Đức quân đủ sức chinh phạt các lân bang.
Tổng diện tích tự nhiên của phủ Thiên Đức và vùng Siêu Loại là 276 km2. Phía Bắc giáp châu Vũ Ninh dưới quyền Vũ Ninh vương, phía Đông giáp vùng Long Biên của Trữ quân, phía Nam tiếp giáp Tế Giang của La Lệnh công, phía Tây Nam giáp châu Nam Sách, còn phía Tây giáp trấn Hải Đông.
Chương công bố thành lập phủ Thiên Đức với 4 huyện, bao gồm:
Huyện Thiên Đức chính là phủ Thiên Đức cũ.
Huyện Siêu Loại có ranh giới từ sông Dâu tới sông Xích Giang, bao gồm các xã như Kim Tháp, Lệ Chi. Huyện Siêu Loại chủ yếu là lưu dân từ các vùng khác đến sinh sống. Cách sắp đặt này của Chương đều có chủ ý sâu xa.
Huyện Thừa Thiên kéo dài từ thành Luy Lâu bên bờ sông Dâu đến làng Văn Lãng, bề rộng từ sườn Nam dãy Linh Sơn qua làng Nguyệt Đức. Nguyễn gia trang của ông Cả Lụa, thành Luy Lâu và Lý phủ đều nằm trong huyện Thuận Thiên. Trung tâm hành chính phủ Thiên Đức đặt tại Diên Ứng, ven bờ sông Dâu – nơi có Diên Ứng tự, chợ Diên Ứng, thành Luy Lâu, Trường Y thuật Vạn Xuân, Trường Quân sự Vạn Xuân cùng lỵ sở của các ty…
Huyện Thuận Thiên có địa giới hành chính từ phía tây làng Văn Lãng đến sông Thiên Đức. Huyện Thuận Thiên tiếp giáp với trấn Hải Đông, châu Nam Sách và một phần Tế Giang.
Có thể nói, phủ Thiên Đức mới được các dòng sông bao bọc bốn bề. Phía Đông có Xích Giang, phía Bắc, Tây và Tây Nam giáp sông Thiên Đức. Hệ thống nhánh sông Dâu lại chia cắt phủ Thiên Đức với Tế Giang từ phía Đông Nam xuống phía Nam và một phần Tây Nam.
Đứng đầu mỗi huyện là Huyện trưởng.
Huyện trưởng huyện Thiên Đức là Phạm Ba Duy, gốc làng Nhị Vạn, 31 tuổi. Ba Duy là bạn nối khố của Phạm Bỉnh Di và là con nuôi của Phạm Tu. Ba Duy từng là một nho sĩ, hiện tại đã thông thạo chữ Bụt.
Huyện trưởng huyện Siêu Loại là Lê Văn Thịnh, Huyện phó là Bùi Cầu.
Huyện trưởng huyện Thuận Thiên là Ngô Miên Thiệu, Huyện phó là Trịnh Hoài Thượng.
Huyện trưởng huyện Thừa Thiên là Nguyễn Diệu Huyền, tức Duệ. Huyện phó là Vũ Trinh. Do Duệ chưa thể bắt tay vào công việc nên Vũ Trinh sẽ tạm nắm quyền điều hành. Vũ Trinh đã gặp Duệ và cảm phục vốn kiến thức uyên bác của cô, chứ không phải vì Duệ là phu nhân Vạn Thắng Vương.
Bùi Quốc Khái làm Phó Ty Giáo dục.
Mỗi huyện có một Huyện Đội trưởng quản lý quân sự tại địa phương. Huyện Đội trưởng, dù là người làng Vạn và mang chức Huyện phó, nhưng không tham gia điều hành công việc dân sự. Ngoài Huyện Đội trưởng, Trưởng Công an huyện cũng là người gốc làng Vạn.
Về lực lượng quân đội, Thiên Đức quân được chia làm hai lực lượng chính: quân chính quy thường trực và quân dự bị không thường trực.
Lực lượng chính quy gồm quân chủ lực và quân địa phương. Lực lượng dự bị nằm ở các xã.
Quân chủ lực là Đại đoàn Thiên Đức với 5 trung đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn pháo binh, 1 lữ đoàn thủy quân và 2 tiểu đoàn trực thuộc, trong đó:
Trung đoàn bộ binh Thiên Đức, quân số 1.500 người, do Nguyễn Lạc Thổ làm Trung đoàn trưởng. Nghiêm Phúc Lý giữ chức Trung đoàn phó và Phạm Sáng làm Chính trị viên.
Ba tiểu đoàn trực thuộc gồm có: Long Ngô Động dưới quyền Trần Nguyên Hãn, Súng Trường do Phạm Sĩ Sách chỉ huy và Luy Lâu do Lý Công Thành lãnh đạo. Bản doanh trung đoàn đóng tại làng Nguyệt Đức, huyện Thừa Thiên.
Trung đoàn bộ binh Thần Vũ, với quân số 1.500 người, Trung đoàn trưởng là Phạm Thiên Bình, Trung đoàn phó là Lý Kế Nguyên. Bản doanh của trung đoàn đóng tại Bãi Dinh, cạnh làng Văn Lãng, thuộc khu vực giáp ranh giữa huyện Thừa Thiên và Thuận Thiên.
Trung đoàn Thần Vũ có ba đại đội. Phạm Thị Thanh chỉ huy Đại đội Thần Vũ, Phạm Kim Huệ chỉ huy Đại đội Đường Vỹ và Phạm Ngũ Lão chỉ huy Đại đội Tam Vạn. Đặc biệt, quân số của cả Đại đội Thần Vũ và Đại đội Đường Vỹ đều là nữ giới.
Trung đoàn bộ binh Thần Sách, quân số 1.500 người, do Lý Văn Ba làm Trung đoàn trưởng và Lý Quang Minh làm Trung đoàn phó. Ba tiểu đoàn trực thuộc là Vũ Ninh, Môn Thôn, Sơn Tây. Bản doanh đóng tại huyện Thuận Thiên.
Trung đoàn bộ binh Thánh Dực, quân số 1.500 người, với Trung đoàn trưởng Bàn Phù Sếnh và Trung đoàn phó Đào Cam Mộc, cùng ba tiểu đoàn: Chiến Thắng, Tất Thắng, Đại Thắng. Bản doanh đóng tại huyện Siêu Loại.
Trung đoàn bộ binh Thuận Thành, quân số 1.500 người, do Lê Quý Ly làm Trung đoàn trưởng và Triệu Văn Khoát làm Trung đoàn phó, chỉ huy ba tiểu đoàn: Thuận Thành, Diên Ứng và Bình Ngô. Bản doanh đóng ở huyện Thiên Đức.
Lữ đoàn pháo binh Thần Sấm có biên chế 1.000 quân. Lữ đoàn trưởng là Phạm Bạch Hổ. Lữ đoàn bao gồm hai tiểu đoàn: Vạn Xuân do Dương Cát Lợi chỉ huy và Sông Dâu dưới quyền Trần Thái Bộc. Bản doanh đóng tại ngã ba sông Dâu và Thiên Đức, thuộc địa phận huyện Thiên Đức.
Lữ đoàn thủy quân Long Vũ, do Yết Kiêu làm Lữ đoàn trưởng và Hoàng Ngưu làm Lữ đoàn phó, gồm 5 tiểu đoàn với tổng cộng 3.000 quân nhân:
Tiểu đoàn Siêu Loại của Đinh Công Tráng đóng cạnh làng Nguyệt Đức.
Tiểu đoàn Vạn Ninh của Hoàng Thái Công đóng ở bến Bình Than, huyện Thuận Thiên.
Tiểu đoàn Kình Ngư của Phạm Hữu Nhật đóng ở bến Luy Lâu.
Tiểu đoàn Long Vũ của Phạm Chiêm trấn gi��� tại bến Môn trên sông Thiên Đức.
Tiểu đoàn Thủy pháo của Cao Lịch có 800 quân chia thành 4 đại đội, cùng trấn giữ với 4 tiểu đoàn thủy quân. Cao Lịch chỉ chịu trách nhiệm và thi hành lệnh từ ba người: Yết Kiêu (chỉ huy trực tiếp), Phạm Bạch Hổ (chỉ huy pháo binh) hoặc Chương (Bộ trưởng Bộ Quốc phòng).
Hai tiểu đoàn trực thuộc gồm:
Tiểu đoàn Vận tải - Hậu cần Thiên Đức gồm 800 người, do Tống Viết Dương làm Tiểu đoàn trưởng và Nguyễn Cư Đạo làm Tiểu đoàn phó.
Tiểu đoàn Thiết giáp Thiên Đức gồm 600 người, do Ngô Kình Ngư nắm quyền chỉ huy.
Quân địa phương gồm 4 tiểu đoàn khung, đặt theo tên các huyện: Siêu Loại, Thuận Thiên, Thừa Thiên và Thiên Đức.
Mỗi tiểu đoàn có 250 quân thường trực đóng tại địa phương.
Quân dự bị, còn gọi là dân quân, được tổ chức tại các xã. Mỗi xã tổ chức một trung đội gồm 50 người. Toàn phủ Thiên Đức có 40 xã. Huyện Đội trưởng có quyền chỉ huy lực lượng dân quân trong địa bàn của mình.
Tổng số quân nhân Thiên Đức thường trực lên đến 20.700 người. Bởi chú trọng phát triển kinh tế và tăng dân số, Chương cho thi hành chính sách Ngụ binh ư nông với 50% quân số thường trực nghỉ luân phiên hai tháng một lần. Trong trường hợp động binh, toàn bộ quân số sẽ được tập hợp đầy đủ, không thiếu một ai, nội trong nửa ngày.
Với Trung đoàn Thiên Đức và Thần Vũ, do là chủ lực nên có những đặc thù riêng. Binh sĩ của Trung đoàn Thiên Đức đóng quân và canh tác luôn tại làng Nguyệt Đức, đảm bảo đủ quân số khi cần. Quân Thần Vũ vốn theo lệ, Vạn Thắng Vương ở đâu thì đóng quân ở đấy, nên quân số luôn được đảm bảo. Các binh sĩ Thần Vũ, dù là nam hay nữ, khi lập gia đình cũng sẽ sinh sống luôn trong bản doanh.
Lương binh nhì là 55 đồng/tháng, binh nhất là 1 tiền. Lương không bao gồm phụ cấp, khen thưởng.
Phạm Cự Lượng giữ chức Đại đoàn trưởng Đại đoàn Thiên Đức, còn Trương Văn Long là Đại đoàn phó.
Trương Lôi và Chu Diện phụ trách Trung tâm Tân binh Thiên Đức trực thuộc Bộ Quốc phòng. Tất cả tân binh đều phải trải qua 3 tháng huấn luyện tại đại bản doanh Thiên Đức. Ngay cả những người muốn theo học Trường Quân sự Vạn Xuân, theo quy trình, đều phải hoàn thành 3 tháng huấn luyện tân binh trước khi học chính trị và quân sự chuyên sâu.
Tại sao Chương lại biến đại bản doanh, nơi dựng cờ, thành nơi huấn luyện tân binh? Lý do là Chương muốn bất cứ tân binh nào cũng thấu hiểu nguồn gốc hình thành và quá trình phát triển của đội quân mình.
Hạ tuần tháng 10 năm Thiên Đức 29, Chương huy động quân dân trong vùng tiến hành đào thẳng hai bờ sông Khoai, mở rộng lòng sông thành 20 trượng và nạo vét bùn đất để tăng độ sâu. Hai bờ sông trồng cây xanh, cứ mỗi hai dặm lại dựng một cây cầu lớn bằng gỗ bắc qua sông. Thuyền Mông Đồng có thể dễ dàng qua lại dưới gầm cầu, các loại thương thuyền nhỏ cũng tương tự. Trong trường hợp khẩn cấp cần di chuyển Xa Hải, nhịp giữa của cầu có thể được tháo rời. Mỗi cây cầu sẽ được đặt theo tên làng gần đó và giao cho chính quyền làng quản lý. Nhiều guồng quay nước cũng được chế tạo và lắp đặt nhằm phục vụ công tác thủy lợi nội đồng.
Hai bên bờ sông Khoai đồng thời khởi công xây dựng những con đường lớn, với mặt đường rộng 4 trượng, được lèn đất và đổ đá dăm bằng phẳng. Đường phía Linh Sơn gọi là Tả Siêu Loại, còn đường phía Nguyệt Đức gọi là Hữu Siêu Loại. Đường ray gỗ sẽ đặt giữa đường lớn, đảm bảo rằng, việc vận chuyển bằng ngựa kéo từ Luy Lâu đến bến Bình Than, hay từ Đông sang Tây, sẽ ch��� mất chưa đến nửa canh giờ.
Tổng số nhân công huy động làm đường khoảng 4 vạn người, thay phiên nhau làm việc bất kể ngày đêm. Ty Thông tin, Ty Dân vận và Hội Phụ nữ đã làm tốt công tác tư tưởng trước đó, nên nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ dân chúng. Bởi Vạn Thắng Vương không thu thuế, nên không có ngân sách trả công, chỉ có thể cung cấp đủ bữa ăn no cho người dân mà thôi.
Sông Khoai, Tả Siêu Loại và Hữu Siêu Loại sẽ trở thành tuyến giao thông thủy bộ huyết mạch của vùng.
Xưởng quân khí chuyên đúc thần công được di dời về Bãi Dinh, cạnh làng Văn Lãng. Một làng mới mang tên Hỏa Mai được dựng cách Bãi Dinh hơn 1 dặm về phía Đông. Đúng như tên gọi, làng Hỏa Mai chuyên sản xuất súng.
Làng Vạn Xuân, một ngôi làng nhỏ được xây dựng trên một gò đất lớn nằm đối diện làng Hỏa Mai, ngăn cách bởi sông Khoai, sẽ là nơi cư ngụ của Vạn Thắng Vương.
Trung tâm của làng Vạn Xuân là Mạc phủ. Mạc phủ bao gồm nhiều căn nhà mái ngói, tường gạch, được dùng làm nơi hội họp, yến tiệc hoặc xử lý việc quân. Nơi ở của Vạn Thắng Vương và bốn phu nhân nằm ở phía tây của làng, gần cánh đồng. Nhà chính có tường gỗ, mái ngói, tủ kệ cũng đều được làm từ gỗ. Trước nhà có ao cá, phía sau nhà là một gò tự nhiên tương đối bằng phẳng, có hình dáng giống mai rùa.
Làng được bao quanh bởi những rặng tre và nhiều loại cây cối khác, đường làng được lát gạch đỏ au. Tám hướng của làng đều có tháp canh kiên cố bằng bê tông, mỗi tháp canh được trang bị 2 thần công và 30 tay súng. Số nhân khẩu của làng không quá đông, tổng cộng chỉ khoảng 600 người, bao gồm cả đội thân quân bảo vệ.
Mạc phủ sẽ là nơi làm việc của Văn phòng Vạn Xuân, giúp Vạn Thắng Vương xử lý việc quân, giống như cách Duệ đã làm trước đây. (Sau này, nơi đây được đổi tên thành Văn phòng Tổng Tham mưu trưởng, do một người đứng đầu quản lý.) Ban đầu, Mạc phủ gồm các phòng ban sau:
Phòng 1 (Nhân sự): Đặng Thị Trúc làm Trưởng phòng, chịu trách nhiệm theo dõi quân số, khen thưởng và lương bổng.
Phòng 2 (Tình báo): Trần Nhật Tôn là Trưởng phòng. Phòng này được chia thành Ban A (chuyên thu thập tin tức trong vùng) và Ban B (chuyên thu thập tin tức từ bên ngoài).
Phòng 3 (Tác chiến): Hiện phòng chưa có người chủ chốt, chỉ gồm 3 nhân viên.
Phòng 4 (Hậu cần): Do Phạm Thị Hồng (vợ Mạc Dật) đảm trách, phụ trách nắm giữ số liệu hậu cần và công tác tiếp vận.
Phòng 5 (Liên lạc): Trần Mạnh Dũng, con trai Trần Thông, sau thời gian dài theo chân Cự Lượng đã thông tỏ mọi việc, nên được giao giữ vị trí Trưởng phòng Liên lạc.
Phòng 6 (Tài vụ): Triệu Thị Hương, 22 tuổi, trưởng nữ của Triệu Quang Phục và cũng là thân tín của Duệ, được giao cai quản.
Gia đình các trưởng ty như Hàn Thuyên, Trần Thông, Gia Miêu, Bỉnh Di, Vương Khang (Trưởng ty Tài chính)... đều sẽ chuyển về sinh sống tại đây.
Có thể nói, làng Vạn Xuân, mà cụ thể là Mạc phủ, đã bắt đầu mang dáng dấp của một triều đình thu nhỏ, nơi quy tụ tầng lớp tinh hoa của Thiên Đức.
Trong quá trình xây dựng và sau khi hoàn thiện, trước khi Chương dọn đến ở, bất kỳ bách tính Siêu Loại nào muốn đến tham quan nơi ăn chốn ở và chỗ làm việc của Vạn Thắng Vương đều có thể ��ăng ký với Ty Công an. Dân Siêu Loại cảm thấy hiếu kỳ, nên hàng nghìn người đã đăng ký với Phạm Bỉnh Di để được mục sở thị. Tuy nhiên, khi trở về, họ đều có phần thất vọng vì Mạc phủ hay gia trang của Vạn Thắng Vương chẳng hề nguy nga tráng lệ, thậm chí còn kém xa so với phủ đệ của các thương nhân giàu có.
Ty Thông tin và Ty Dân vận giải thích rằng Vạn Thắng Vương nhận thấy bách tính vẫn còn nhiều khó khăn, nên không muốn hao tiền tốn của để xây dựng cung điện hay phủ đệ quá nguy nga, lộng lẫy. Bách tính cho là phải, nhưng thực hư thế nào thì chỉ có những thân tín của Vạn Thắng Vương mới thật sự hiểu rõ.
Về phần Vạn Thắng Vương, ông đã nói với vợ mình rằng:
- Tại sao phải tốn tiền xây dựng nơi ở nguy nga trong khi chúng ta chỉ ở đây đôi ba năm?
Rõ ràng, làng Vạn Xuân đối với Vạn Thắng Vương cũng chỉ là một trạm dừng chân tạm thời mà thôi. Bản dịch tiếng Việt này, với tất cả sự cẩn trọng và tâm huyết, thuộc quyền sở hữu của truyen.free.