Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 161: Xưởng quân khí

Vào những ngày cuối năm cũ, đầu năm mới, Chương bận rộn cả việc công lẫn việc tư.

Chương cho xây dựng một xưởng quân khí rộng hàng nghìn mét vuông nằm gần bản doanh, phía sau làng Đường Vỹ, để chuyên tâm nghiên cứu, chế tạo vũ khí bí mật. Xưởng có tường gạch bao, cao một trượng năm thước, nhiều tháp canh, và bờ tường được trồng kín mây gai. Việc ra vào nơi này được kiểm soát rất chặt chẽ, ngoài bốn cô gái được tự do ra vào, còn có Thái Hương, Nguyệt, Cự Lượng, Trương Lôi, Bỉnh Di, Phạm Tu cùng đầu lĩnh Thiên Gia Bảo Hựu. Những người khác muốn ra vào đều phải được sự đồng ý của Chương. Xưởng này đồng thời là nơi ở của Đại đội Thần Vũ với ba trung đội luân phiên canh gác suốt ngày đêm.

Chương đã cho chuyển toàn bộ xe tải quân sự về đây trong đêm. Hàng nghìn binh sĩ Thiên Đức lần đầu nhìn thấy "thần mã" của chủ tướng đã không khỏi ngạc nhiên, dù xe đã phủ kín bằng vải. Để không kinh động dân trong làng, xe được di chuyển trên những con lăn gỗ. Xe vẫn nổ máy được nhưng bánh xe hết hơi. Điều này không đáng lo.

Trải qua cuộc chiến hao tổn thương vong, Chương buộc phải tính đến những biện pháp giúp giảm thiểu thiệt hại này, bởi như cậu nói với bọn Thiên Bình:

- Các bà mẹ ở Thiên Đức đẻ không kịp nếu anh còn non nớt. Pháo đá, nỏ Liên Châu, guồng xoay đều đã giao cho người khác cả rồi, anh sẽ chế ra những thứ tốt hơn giúp lấy ít địch nhiều, lấy thiểu thắng đa.

Xưởng nghiên cứu chế tạo quân khí ban đầu có hơn năm mươi thợ rèn, thợ mộc và mười nho sinh cùng hai mươi thiếu niên giúp việc. Chương bắt tay vào thiết kế trang thiết bị quân sự.

Thứ đầu tiên Chương cho làm thử là mẫu xe tiếp cận thành trì đối phương nhưng giảm thiểu thương vong, lấy thành Luy Lâu làm mẫu. Mẫu thiết kế đầu tiên mang tên Thiên Đức 1.

Thiên Đức 1 là xe thang di động có sáu bánh nhỏ, mái che bằng sắt hoặc đồng mỏng. Khi xung trận, người ta đặt nệm rơm ẩm trát bùn lên làm mái che chống tên, hỏa tiễn và dầu sôi. Chín binh sĩ bên trong xếp thành ba hàng đẩy xe thang. Thang lắp ở phía sau, dài hơn hai trượng, có thể gập đôi, đầu thang có móc sắt. Lúc công thành, xe được đẩy đến sát chân tường, tháo dây buộc, thang sẽ bật lên móc vào lũy thành. Binh sĩ phía sau cứ thế mà chạy lên thang. Chín binh sĩ trong xe thang tùy trường hợp mà hỗ trợ chiến đấu, tuyệt đối không lo bị vật gì rơi trúng đầu.

Thiên Đức 2 là xe quan sát di động có sáu bánh, dùng ngựa kéo. Tre vẫn là nguyên liệu chính để làm chòi, cao gần hai trượng. Khi sử dụng, binh sĩ kéo thang lên cao, ngồi trên đỉnh thang quan sát được bốn phía. Khi không dùng, h�� tháo chốt để hạ thang xuống, chỉ còn cao một trượng. Xe gọn nhẹ, một ngựa kéo; nếu cần chở thêm lương thảo, khí giới thì thêm ngựa kéo. Trong quá trình hành quân hoặc hạ trại đều dễ dàng sử dụng, không tốn thời gian dựng tháp canh. Mỗi xe Thiên Đức 2 kèm theo một loa bằng sắt mỏng.

Thiên Đức 3 là chiến xa bắn lao có hai bánh lớn, hai binh sĩ hoặc một ngựa cũng có thể kéo dễ dàng. Mỗi chiến xa có mười hai ống phóng lao ngắn, tầm sát thương hiệu quả trong mười trượng; càng gần thì tầm sát thương càng lớn, có thể xuyên giáp trụ. Lam Khuê và Bùi Thị Xuân giúp Chương hoàn thiện mẫu Thiên Đức 3.

Thiên Đức 4 cũng có sáu bánh nhỏ, là hỏa pháo liên hoàn, tầm sát thương sáu mươi đến bảy mươi trượng. Thiên Đức 4 có bốn nòng bắn đồng trục, một ngựa kéo hoặc bốn binh sĩ đẩy. Xe trang bị tiêu chuẩn hai mươi bốn quả đạn niêu đất nung. Một lượt có thể bắn bốn niêu đất hoặc dừa khô, bên trong chứa hỗn hợp cháy các loại như dầu phụng, mỡ đun sôi, hoặc có thể là đá, chông.

Nỏ Liên Châu cỡ trung được cải tiến thành Liên nỗ, bắn một lượt năm mũi tên dài.

Thiên Đức 5 là chiến xa đa tầng, cao ba đến bốn trượng, có nhiều bánh xe dùng để công thành, phá lũy. Mặt trước và hai bên hông có ván hoặc tre đan che chắn. Thiên Đức 5 chỉ phổ biến cho tướng sĩ, và chỉ được dựng khi công thành vì rất nặng. Chiến xa đa tầng do quân đẩy sát chân tường thành, mặt trước có các lỗ tròn dùng để đâm giáo. Tháo dây chằng buộc các tấm ván gỗ ở mặt trước, ván gỗ lập tức trở thành cầu cho bộ binh tiến lên tường thành. Bộ binh các tầng dưới cứ thế mà leo lên tầng trên vào thành nhanh chóng. Đối phó với hỏa tiễn vẫn là rơm ướt, người chỉ huy chiến xa phải tự sắp xếp.

Thiên Đức 6 còn gọi là Thiết xa có vỏ hoàn toàn từ đồng, sắt hoặc bọc đồng, sắt mỏng bên ngoài chống tên, giáo đâm. Thiết xa có hình chữ nhật, dài hơn một trượng, bề ngang hơn sáu thước. Chở tối đa tám người. Xe có bốn bánh lớn, sàn gỗ mỏng. Một ngựa kéo khi hành quân; lúc xung trận, xe đóng vai trò quân tiên phong, do hai binh lính vận hành bằng cách đạp bàn đạp như xe đạp, đồng thời chở những người còn lại. Truyền động bằng xích sắt, bánh trước có tay lái điều chỉnh hướng trái phải nhưng chỉ được mười lăm độ mỗi bên. Tuy xích sắt làm còn thô sơ, tốc độ di chuyển chỉ bằng người đi bộ nhanh, nhưng vậy đã là quá tốt, đảm bảo được an toàn cho binh sĩ.

Để giảm trọng lượng, xe không có cửa sau, khiến việc ra vào không dễ dàng. Thiết xa đục nhiều lỗ nhỏ vừa để thông hơi vừa quan sát ba hướng.

Bởi đã giao cho Sơn Tây Vương thiết kế nỏ Liên Châu và pháo bắn đá, nên Chương buộc phải có thứ vũ khí tối tân hơn trong điều kiện và hoàn cảnh hiện tại. Để Chương có thể làm chủ tuyệt đối chiến trường, thứ vũ khí này chính là thuốc súng!

Trong gần cả năm qua, Chương đã dùng nhiều cách để điều chế diêm tiêu từ phân gia súc, nước tiểu, đất từ chuồng gia cầm và phân dơi trộn lẫn với đất, đá trong các hang trên núi Linh Sơn, cùng với phân dơi do thương nhân mua về.

Phân gia súc như trâu, bò, ngựa, lợn được đem về cho vào các chum, vại lớn đã được chuẩn bị. Đáy chum vại có một lỗ, gắn ống trúc bịt vải mịn ở đầu. Sau đó, Chương đổ nước tiểu của binh sĩ vào chum vại, thêm cả nước sạch rồi đóng nắp lại. Nhiều chum vại không đục lỗ ở đáy được dùng để đựng phân và nước tiểu nhằm đối chiếu với phương pháp kia. Sau khi phân hủy, thứ Chương thu được là muối diêm trắng nổi trên bề mặt.

Quân sĩ Thiên Đức nhận lệnh tiểu tiện đúng chỗ, dân trong các làng cũng ủng hộ nước tiểu trong các chum vại dù chẳng hiểu tại sao phải làm vậy.

Bên cạnh đó, đất, đá vụn cạo từ các hang dơi được nghiền mịn, trộn thêm tro bếp, pha với nước đun sôi, dùng vải lọc, cô đặc, phơi khô. Phân dơi không dính đất đá sẽ đỡ tốn công sức lọc và cô đặc hơn. Phân chuồng gia cầm cũng làm theo cách như với đất, đá vụn ở hang dơi nhưng hiệu quả không bằng.

Than củi xoan dễ bắt lửa có sẵn hàng chục đống lớn. Chương trộn than củi xoan giã mịn với diêm tiêu hàng trăm lần với các tỉ lệ khác nhau dựa trên trí nhớ và nhận ra rằng tỉ lệ than củi càng nhiều thì cháy càng lâu. Chương trộn thêm vôi bột, ớt hiểm phơi khô, giã mịn hoặc những mảnh sắt li ti sắc nhọn… thử nghiệm nhiều lần nhưng sức nổ vẫn rất yếu, song có thể dùng để chế tạo hỏa hổ cận chiến.

Thiết kế hỏa hổ ban đầu bằng ống tre đựng hỗn hợp thuốc súng, nhựa thông, vôi bột, mạt sắt dùng cho bộ binh khi chuẩn bị cận chiến.

Cần phải có lưu huỳnh mới đạt được mục tiêu làm ra thuốc súng.

Lưu huỳnh ở đâu? Đó là một từ xa lạ với dân trong vùng Thiên Đức chứ đừng nói đến việc mô tả cho họ hiểu. Ngay như Chương còn chưa bao giờ cầm trên tay mà chỉ từng thấy trên sách vở.

May thay, trong rất nhiều mẫu khoáng thạch Nguyệt đem về từ Sơn Tây, Chương đã có thứ cậu cần, những viên đá xốp màu vàng chanh. Chương đã thử dùng lửa đốt và ngửi thấy mùi trứng ung thum thủm. Theo giấy ghi chép, những cục đá xốp này thu lượm ở ven suối nước nóng gần núi cao.

Muốn bí mật không bị lộ, Chương gửi thư xin Sơn Tây Vương cho một mỏ sắt để chế tạo vòng bi và đao kiếm. Đồng thời, cậu xin thêm khoáng vật màu vàng ở suối nước nóng, lấy lý do về để tìm cách chế biến phân bón ruộng. Sơn Tây Vương đã đồng ý.

Cuối tháng Giêng, hơn một trăm tráng niên tin cẩn của Thiên Đức theo thương thuyền đến Sơn Tây tự khai thác mỏ sắt và đá xốp, rồi chở về. Những người này cũng chỉ biết sắt làm đao kiếm, vòng bi, và thứ đất đá màu vàng kia. Vì Thiên Đức cần dân no ấm, nên khoáng vật màu vàng được ưu tiên chở về trước, bởi mạ mới cấy được một tháng và đang rất cần phân bón. Họ cũng được dặn ngược dòng suối nước nóng đó để tìm khoáng thạch tương tự.

Số lượng lưu dân đến Thiên Đức thưa dần do sợ cảnh binh đao, nhưng Chương không hề phiền lòng vì cậu xác định năm Thiên Đức 27 sẽ tập trung phát triển kỹ thuật quân sự đường thủy và đường bộ, huấn luyện binh mã tinh nhuệ, cải cách nông nghiệp trong vùng, dạy dân làm những nghề mới, chú trọng giáo dục cho người dưới ba mươi tuổi.

Thiên Bình và Duệ thông qua Thiên Đức hội tuyên truyền thường xuyên, vận động các làng để mỗi làng đều có một lớp học tạm thời ở bất cứ đâu, dạy mỗi ngày từ sáng đến chiều, ai cũng có thể học. Người biết nhiều sẽ chỉ dạy người biết ít.

Dân Thiên Đức dưới ba mươi tuổi bắt buộc phải học thuộc bảng chữ cái của Bụt. Các chợ lớn nhỏ trong vùng đều dựng các tấm bảng gỗ viết sẵn chữ cái bằng than củi. Dân muốn đến chợ buôn bán, mua sắm… đều phải đọc đúng ít nhất ba chữ cái, cứ sau ba phiên chợ, số lượng chữ cần đọc lại tăng thêm hai. Ai đọc sai phải quay về hoặc nhờ người khác mua giúp.

Các cụ già cũng học vì chẳng mất gì.

Trong các lớp học, truyền thuyết trăm trứng thường được kể, cùng với hàng trăm câu chuyện về những chỉ huy và quân sĩ Thiên Đức từng lập nhiều công trạng, hay về những tấm gương anh dũng của các tử sĩ…

Những người như Cự Lượng, Nguyệt, Lạc Thổ, Trương Lôi, Chu Diện… ngoài việc luyện quân còn phải kể lại những gì bản thân đã làm được, đang làm được và mong muốn sẽ làm gì. Những người này đều phải kể ra cả những khó khăn mà họ từng gặp, những lo lắng đã từng trải qua, làm thế nào để vượt qua được hoặc nếu kể về thất bại, phải tự phân tích nguyên nhân thất bại.

Duệ cho nho sinh ghi chép lại nhiều chuyện, đóng thành cuốn rồi đưa đến Hàn Thuyên. Hàn Thuyên sẽ đọc, chắt lọc những câu chuyện hay và biên soạn lại thành cuốn “Tấm gương binh sĩ Thiên Đức”.

Bên cạnh đó, những người trong Bát Vạn Thương Nhân cũng được mời kể về chuyện làm ăn của họ, những khó khăn và thất bại từng trải qua… Hàn Thuyên và các nho sinh chép lại thành “Tấm gương thương nhân Thiên Đức”.

“Tấm gương nông dân Thiên Đức” ghi chép về nông dân trong vùng, chọn ra những cá nhân, gia đình tiêu biểu đã đổi đời nhờ chăm chỉ chăn nuôi (lợn, bò, trâu, chim câu, gà vịt) và nuôi cá. Bất cứ ai muốn học hỏi đều có thể đến các nhà đó để học theo. Những nông dân tiêu biểu nếu dạy cho dân trong làng hay dân làng khác mà họ đạt kết quả tốt trong sản xuất sẽ được Thiên Đức quân ghi nhận công lao, được vào Thiên Đức hội.

Mỗi làng có một chi hội nông dân, mỗi xã có một hội nông dân. Người đứng đầu chi hội nông dân và hai người phó đều do dân làng đó chọn ra theo hình thức bỏ phiếu bằng que tre. Ba người này phải làm nông giỏi, là thành viên của Thiên Đức hội. Các Chi hội trưởng sẽ bầu ra Hội trưởng của xã.

Cha của Kình Ngư, ông Lăng, được chỉ định tạm thời làm Phó chủ tịch Hội Nông dân Thiên Đức, Duệ làm Chủ tịch. Ông Lăng thay mặt Duệ, còn ba nho sinh của Hàn Thuyên được cử làm thư ký giúp ông Lăng quản lý sổ sách, giấy tờ. Bước đầu đã manh nha việc kê khai ruộng đất để quản lý bài bản hơn.

Những người giữ chức từ Chi hội phó trở lên đều được trả lương hàng tháng, bắt đầu từ mười đồng. Hội trưởng mười lăm đồng. Ngoài ra, nếu làng nào phát triển tốt, xã nào tốt thì Hội trưởng và các Chi hội trưởng của xã đó được khắc tên lên bia đá trong xã cùng tiền thưởng cá nhân, và tiền thưởng để khao cả làng.

Chỉ huy Thiên Đức từ cấp Tiểu đội phó trở lên bắt buộc phải tham gia lớp Sơ cấp chính trị ngắn hạn do Chương giảng dạy. Các lớp này truyền bá tư tưởng, thay đổi cách nhìn, tầm nhìn cho cấp chỉ huy nhằm hướng đến mục tiêu lập Nhà nước Vạn Xuân thống nhất, giàu mạnh, tự lập tự cường, lấy dân làm gốc.

Do tất cả các cấp chỉ huy đều là thành viên của Thiên Đức hội, Chương dần giao phó việc đào tạo chính trị và tư tưởng cho Thiên Bình và Duệ vì tướng sĩ đều thừa nhận tài năng của hai cô. Thêm nữa, hai nàng đều là vợ sắp cưới của chủ tướng. Các cấp chỉ huy sau khi học xong về d��y lại cho quân của mình.

Từ tháng Tư năm Thiên Đức 27, tất cả quân Thiên Đức mới gia nhập đều phải trải qua lớp học chính trị kéo dài năm ngày. Sau đó viết hoặc kể lại những gì mình đã tiếp thu được cho chỉ huy trực tiếp. Chỉ huy phải nhận xét đạt hay không đạt, báo lại cho Duệ bằng văn bản. Điều này cũng được ghi vào hồ sơ quân nhân.

Về sau, mỗi tháng Chương lại dành nửa buổi đứng lớp, thông báo tình hình các sứ quân thu thập được, đưa ra các nhận định, dự đoán của bản thân để mọi người cùng trao đổi. Sau cùng, luôn là câu hỏi: Thiên Đức quân sẽ phải làm gì? Mỗi người chỉ huy phải tự đưa ra kế hoạch rồi tự hoàn thành với sự giúp đỡ của nhiều người khác.

Có thể nói Thiên Đức hội phát triển nhanh trong năm Thiên Đức 27 cả về chất lượng lẫn số lượng thành viên. Cuối năm đó, số thành viên Thiên Đức hội đã hơn một nghìn người. Vì vậy, việc kết nạp thành viên mới cũng có những điều kiện khắt khe hơn. Sự thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất chính là vậy.

Cuối năm Thiên Đức 27, mỗi đại đội trong quân Thiên Đức đều có một người giữ nhiệm vụ Chính trị viên, thường là Đại đội phó, lo công tác tư tưởng cho binh sĩ trong đại đội, tuyên truyền đường lối, chủ trương của chủ tướng hoặc của hội, giảng giải thắc mắc của binh sĩ, tạo tiền đề cho những thay đổi sau này trong quân Thiên Đức.

Điều lệ đầu tiên các thành viên phải tuyên thệ khi tham gia Thiên Đức hội là trung thành tuyệt đối với Thiên Đức quân! Về sau, điều lệ này được đổi thành trung thành tuyệt đối với Thiên Đức hội bởi nhiều lý do khác nhau.

Mọi nỗ lực biên tập đoạn văn này đều đến từ truyen.free, trân trọng cảm ơn sự ủng hộ của quý độc giả.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free