(Đã dịch) Ngã Đích Đệ Tam Đế Quốc - Chương 601: Hố to
Quân Đức bất ngờ xuất hiện tại bán đảo Balkan, và ngay lập tức khởi đầu một đợt tấn công ào ạt chưa từng thấy. Dù 400 chiếc máy bay chiến đấu của Không quân đã giành được ưu thế vượt trội trên không, trong bối cảnh các tiêm kích P-40 và Zero đã được đưa vào sử dụng rộng rãi, tiêm kích chủ lực FW-190D của Đức về tính năng không còn có thể hoàn toàn áp đảo đối thủ. Tuy nhiên, lực lượng không quân của một số quốc gia tại bán đảo Balkan trên thực tế lại không theo kịp xu thế phát triển của thế giới.
Trừ Không quân Hy Lạp được trang bị 11 chiếc P-40 phiên bản cải tiến, phần lớn tiêm kích của các quốc gia Balkan khác có trình độ ngang với Không quân Ba Lan. Đối mặt với không quân Đức hùng mạnh và tàn khốc, không khó để hình dung sự kháng cự của họ yếu ớt đến mức nào.
Chỉ trong 17 giờ, dưới sự chỉ huy của Katherine, đội hình tiêm kích Đức đã hoàn toàn xóa sổ lực lượng không quân của vài quốc gia Balkan. 300 máy bay địch, ngoài việc giúp các phi công Đức tăng thêm thành tích chiến đấu, gần như không mang lại bất kỳ kết quả đáng kể nào cho đối phương. Trên thực tế, số máy bay Đức bị không quân Balkan bắn rơi thậm chí còn ít hơn số máy bay Đức bị rơi do tai nạn.
Ngay chiều hôm đó, máy bay cường kích Stuka II của Đức, dưới sự che chở của tiêm kích, bắt đầu áp đảo các mục tiêu mặt đất. Những chiếc Stuka đời cũ cũng tham gia vào cuộc càn quét. Lực lượng không quân chiến lược ồ ạt xuất hiện ở đảo Crete, oanh tạc các công trình quân sự của Anh trên đảo. Trong vòng 24 giờ, toàn bộ Balkan đều nằm dưới đôi cánh đại bàng của Đức.
Dưới sự chỉ huy của Tướng Hawke, Quân đoàn bộ binh cơ giới số 8 tiến quân thần tốc hệt như khi ở Pháp. Ở nhiều nơi, họ thậm chí còn được nhiệt liệt hoan nghênh. Người dân Serbia tại địa phương coi quân đội Đức là những người giải phóng, sẵn lòng gia nhập dưới sự lãnh đạo của khối Trục, chia sẻ thành quả chiến thắng mà cuộc chiến mang lại.
Ngay cả chính Hawke cũng không thể tin được chiến tranh lại diễn ra thuận lợi đến vậy. Các đơn vị quân đội Nam Tư đối mặt đã tan rã chỉ sau một đòn do thương vong quá lớn. Theo kinh nghiệm chiến trường, tốc độ tiến công 25 kilomet mỗi ngày này hoàn toàn không phải là chậm. Kỳ thực, quân đội Nam Tư đối mặt đã bị quân Ý làm suy yếu đáng kể, nên quân Đức mới thu được lợi thế dễ dàng. Tuy nhiên, trong mắt Mussolini, người không biết rõ sự thật, thì việc quân Ý mất hai ngày cũng không đánh bại được, lại bị quân Đức đánh tan chỉ trong bốn giờ, càng làm ông ta thêm bực bội.
Mâu thuẫn sắc tộc tại địa phương vô cùng phức tạp. Vì thế, khi quân Đức đến, ở nhiều nơi người dân thậm chí còn ném hoa chào đón binh lính Đức, rất nhiều người nóng lòng treo lên cờ chữ Vạn của Đế chế thứ Ba. Nhưng đáng tiếc thay, khu vực này sẽ sớm được giao lại cho Ý quản lý, vì Đức không mấy hứng thú với những vùng phi chiến lược này.
Niềm vui ngắn chẳng tày gang. Sau khi vượt qua một số vùng biên giới thân Đức và có liên hệ với Ý, sự kháng cự bắt đầu trở nên dữ dội. Quân Đức buộc phải vòng qua các thành phố, sử dụng chiến thuật hợp vây dã chiến sở trường để tiêu diệt các đơn vị tăng viện của Hy Lạp và Nam Tư. Trong khi đó, các thành phố bị bỏ lại phía sau lại bị bộ binh Ý và bộ binh Đức bao vây, bắt đầu chịu đựng những trận pháo kích dữ dội không ngừng.
Bán đảo Balkan không nghi ngờ gì có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với chiến lược của quân Đức và quân Ý ở Bắc Phi. Một khi chiếm lĩnh Balkan, sau khi bố trí hải quân và không quân trên đảo Crete, không những có thể liên kết với Thổ Nhĩ Kỳ, tạo thành một liên minh vững chắc, mà tuyến vận chuyển từ Ý đến Bắc Phi cũng sẽ được đẩy về phía trước, đặt trên tuyến đường biển từ đảo Crete (Balkan) đến Ai Cập. Khoảng cách được rút ngắn gần một nửa, và tuyến đường biển cũng an toàn hơn.
Một khi Balkan trở thành căn cứ tiếp tế mới của quân Đức, các mỏ dầu ở Romania sẽ hoàn toàn được bảo vệ. Chiến lược thọc sâu của Đức sẽ càng được mở rộng, và các hoạt động quân sự ở Bắc Phi sẽ nhận được sự hỗ trợ nhiều hơn. Quân đoàn châu Phi của Rommel sẽ nhận được lượng tiếp tế gấp đôi. Liệu quân Đồng minh có thể bảo vệ Kênh đào Suez hay không cũng sẽ trở thành một vấn đề, chứ chưa nói đến việc bảo vệ một khu vực rộng lớn như Ai Cập.
Nếu cảng Alexandria của Ai Cập thất thủ, nguồn tiếp tế của quân Anh và quân Mỹ trong khu vực sẽ càng thêm khó khăn. Dầu mỏ Trung Đông sẽ rơi vào tay phe Trục. Khi đó, nguồn tài nguyên Accardo kiểm soát sẽ vượt qua cả Hoa Kỳ, và Mỹ dù có năng lực sản xuất khổng lồ nhưng sẽ rơi vào tình trạng khó khăn do thiếu nguyên liệu.
Dĩ nhiên, tất cả những điều này cũng chỉ là những phỏng đoán. Mọi việc sẽ không hoàn toàn diễn ra theo kịch bản của Đức. Mỹ và Anh sẽ không khoanh tay đứng nhìn Đức giành ưu thế ở Trung Đông. Họ không muốn nhường quyền lợi dầu mỏ Trung Đông, thậm chí không nghĩ đến việc chia sẻ một phần nhỏ cho Đức.
Quân Anh cũng đang vùng vẫy trong tuyệt vọng. Họ không muốn nhìn khu vực Trung Đông của mình cuối cùng rơi vào tay Đức. Vì thế, khoảng 20 sư đoàn Ấn Độ của Anh đang được điều đến Trung Đông, với hy vọng trước khi tình hình hỗn loạn ở Balkan kết thúc, họ có thể đến Ai Cập để ổn định tình hình. Những sư đoàn Ấn Độ này có năng lực tác chiến không cao, nhưng được cái đông đủ quân số. Quân Anh đã trang bị cho đội quân gần 35 vạn người này bằng số vũ khí lỗi thời còn tồn kho tại địa phương. Một số khẩu lựu pháo kiểu cũ thậm chí được sản xuất từ năm 1898, là những cỗ pháo khổng lồ được sản xuất từ 40 năm trước.
Để bảo vệ Trung Đông, Mỹ thậm chí đã thảo luận vấn đề cử quân viễn chinh Trung Quốc đến Trung Đông với đặc sứ Trung Quốc. Chính phủ Mỹ thậm chí nguyện ý xuất 0,5% hạn ngạch dầu mỏ như điều kiện để Trung Quốc cử quân. Tuy nhiên, do trong lịch sử cận đại, Trung Quốc chưa từng cử quân viễn chinh đến một khu vực xa xôi như vậy, và hậu cần của Mỹ cũng không thể đảm bảo được, nên kế hoạch đầy hứa hẹn này cuối cùng không đi đến đâu.
Một lý do khác khiến kế hoạch này thất bại là do hải quân Mỹ suy yếu và Nhật Bản xâm lược Úc, tuyến đường tiếp tế xuyên nửa vòng Trái Đất giữa Mỹ và Trung Quốc bị cắt đứt. Các đơn vị quân Trung Quốc viễn chinh Myanmar, do thiếu đạn dược và trang bị, đã thất bại tại Myanmar và buộc phải rút về Trung Quốc.
Quân Nhật ở chiến trường Thái Bình Dương lên như diều gặp gió. Thậm chí một số nghị sĩ Mỹ còn cảm thấy rằng cuộc chiến tranh này là chiến thắng của Nhật Bản, và nếu Mỹ muốn tránh tổn thất lớn hơn, chỉ có thể chọn thời điểm rút khỏi cuộc chiến. Tuy nhiên, vì hiện tại chính phủ và người dân Mỹ đều căm thù địch, tiếng kêu gọi quyết chiến một mất một còn với Nhật Bản của người dân ngày càng cao, nên những người Mỹ cấp cao nghi ngờ về thất bại của cuộc chiến chỉ dám than vãn trong bóng tối, chứ chưa thể công khai bày tỏ ý chí này trước Quốc hội.
Dưới tình huống này, Mỹ đã huy động 40 sư đoàn phòng vệ nội địa, chuẩn bị đối phó với khả năng quân Nhật đổ bộ. Nhờ sự kiên trì của Roosevelt, có 4 sư đoàn quân Mỹ tinh nhuệ được điều đến Trung Đông, thậm chí bao gồm 300 chiếc xe tăng M4 Sherman mới sản xuất. Roosevelt hy vọng tăng cường lực lượng cho Patton, giành chiến thắng ở Bắc Phi để ổn định tình hình.
Về điểm này, Roosevelt có quan điểm khác biệt sâu sắc với một số tướng lĩnh cấp cao trong quân đội. Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Hải quân Mỹ, Nimitz, cùng Thống soái tối cao quân Đồng minh, Tướng Eisenhower, đều hy vọng Mỹ dẫn đầu cuộc phản công ở Thái Bình Dương. Trong khi đó, cá nhân Roosevelt lại cho rằng Mỹ nên giải quyết chiến trường Bắc Phi trước.
Cuối cùng, phe tướng lĩnh đã thắng thế. Họ điều phần lớn binh lính Mỹ đến Thái Bình Dương để tử thủ các hòn đảo, nhằm trì hoãn cuộc tấn công của Nhật Bản. Roosevelt chỉ có thể trong phạm vi khả năng của mình, giúp Patton tranh thủ được 4 sư đoàn quân Mỹ. Tuy nhiên, số xe tăng bị cắt giảm xuống còn 200 chiếc, máy bay cũng chỉ có 110 chiếc. So với việc tăng cường lực lượng của Đức ở Bắc Phi cùng thời kỳ, những đơn vị này chỉ có thể coi là đủ để duy trì tình hình mà thôi.
Vậy mà, trên phương diện khác lại truyền tới một tin tức khiến người Mỹ có chút bực bội: việc rút quân khỏi Úc không được thực hiện hoàn chỉnh. Trên thực tế, mọi người đều biết buộc quân đội Úc từ bỏ quê hương để rút về Mỹ là một mệnh lệnh vô cùng khó khăn. Các binh sĩ bản địa kiên quyết không từ bỏ quê hương của mình.
Quá trình thực hiện lệnh từ bỏ Úc đã phát sinh nhiều vấn đề, vấn đề lớn nhất chính là các binh sĩ trai tráng không muốn bỏ lại gia đình. Mỹ đành phải huy động mọi tàu bè có thể tìm thấy, vận chuyển người thân của lính Úc đến Nam Mỹ và Mỹ, lấy đó làm động lực để thuyết phục quân đội Úc cùng rời đi.
Nhưng cuối cùng vẫn còn 4 sư đoàn quân Úc ở lại quê hương. Họ từ chối lên tàu rút lui, mà gom nhặt vũ khí hạng nặng mà lính Mỹ bỏ lại và tiến về hướng ngược lại. Ở đó, họ quyết tâm thề sống chết chiến đấu một trận với quân xâm lược. Cùng lúc đó, đối diện với họ, quân Nhật đang chật vật tiến về phía đông trong sa mạc, hy vọng có thể tìm đến các thành phố trù phú của Úc để triển khai đợt tấn công mới.
Suốt tháng 7, đối với người Nhật mà nói, hầu như toàn là tin tốt. Sau khi tiêu diệt Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, Hải quân Nhật Bản lại trải qua hơn mười ngày tuần tra, yểm trợ bộ binh kiểm soát toàn bộ hệ thống đảo Đông Nam Á. Quân Nhật đã tìm được nguồn dầu mỏ còn thiếu, tình thế chiến lược hết sức thuận lợi.
Bộ Tổng tư lệnh đang vạch ra kế hoạch đổ bộ tấn công đảo Oahu. Yamamoto Isoroku tin tưởng rằng một khi chiếm được đảo Oahu, Mỹ sẽ ngoan ngoãn quay lại bàn đàm phán, chấp nhận cầu hòa với Nhật Bản một cách nhục nhã. Cứ như vậy, canh bạc lớn nhất của Nhật Bản sẽ kết thúc bằng chiến thắng, và Nhật Bản sẽ trở thành bá chủ mới của khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Quân kỳ Nhật Bản đã bao phủ vùng đông bắc, Hoa Bắc và toàn bộ vùng duyên hải phía nam Trung Quốc. Cùng các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Myanmar, Lào, Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Philippines, cũng như vùng tây bắc Úc. Theo quan điểm của giới chóp bu Nhật Bản, chiến tranh sẽ kết thúc trong ba tháng tới. Một khi Mỹ rút khỏi cuộc chiến, Nhật Bản sẽ có cơ hội quay lại, trừng trị thẳng tay Trung Quốc – quốc gia không ngừng gây rối.
Nhưng ảo tưởng của những quan chức cấp cao này hoàn toàn khác xa với thực tế trải nghiệm của binh lính Nhật Bản: ở trong sa mạc Úc, 7 sư đoàn quân Nhật bị lãnh thổ rộng lớn khủng khiếp khiến họ bối rối không biết phải làm sao. Họ đã vô số lần thỉnh cầu tiếp viện từ Bộ Tổng tư lệnh xa xôi ở Tokyo, lý do không phải vì gặp phải sự kháng cự ngoan cường, mà là họ không đủ binh lực để dàn trải trên chiến tuyến dài dằng dặc.
Tướng Tiểu Xuyên, chỉ huy tiền tuyến Nhật Bản, trong lòng không ngừng than thở với nỗi uất ức vô hạn một câu nói: "Đối với lục quân Nhật Bản mà nói, Úc là một mục tiêu không thể không đánh. Nhưng đối với binh lính lục quân Nhật Bản, lãnh thổ mênh mông vô bờ của Úc, thực sự là một cái hố không đáy không thể lấp đầy."
Bản quyền dịch thuật đoạn văn này thuộc về truyen.free, nghiêm cấm mọi hình thức sao chép và phát tán mà không có sự cho phép.