(Đã dịch) Mỹ Ngu Chi Hoa Bình Ảnh Đế - Chương 739: Tình nhân trong mộng
Nếu không có lợi thế trọng sinh, gu thẩm mỹ của người đại diện và chính bản thân diễn viên trở nên vô cùng quan trọng. Giữa vô số dự án ở Hollywood, việc lựa chọn kịch bản và vạch ra lộ trình sự nghiệp đòi hỏi trí tuệ cùng mưu lược, thêm vào đó, còn là gu thẩm mỹ. Thiếu một trong số đó cũng không đ��ợc. Bởi vậy, một siêu sao hàng đầu mới thực sự là ngàn dặm khó tìm.
Cũng chính vì lẽ đó, mối quan hệ giữa diễn viên và người đại diện cần được rèn giũa. Đôi khi, chính gu thẩm mỹ tệ hại của người đại diện đã chôn vùi cơ hội diễn xuất của diễn viên. Burt Reynolds, người từng hai lần được đề cử Oscar cho Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất, vốn là lựa chọn hàng đầu cho vai Han Solo trong loạt phim “Star Wars”. Thế nhưng, người đại diện của ông lại cho rằng đó là một nhân vật tồi tệ, và lấy lý do trùng lịch để từ chối, cuối cùng lại tạo nên tên tuổi của Harrison Ford. Lại có khi, chính những giới hạn của bản thân diễn viên khiến họ đánh mất cơ hội ngàn năm có một. Sean Connery, người thủ vai Điệp viên 007 đầu tiên, vào cuối thập niên 90 bỗng nhiên hứng thú với phim khoa học viễn tưởng. Người đại diện của ông đã săn lùng một loạt kịch bản, bao gồm cả “Chúa tể những chiếc nhẫn” và “Ma trận”. Thế nhưng, Sean khi ấy đã gần bảy mươi tuổi, hoàn toàn không ưng ý những kịch bản này, bởi vì ông “chưa bao giờ có thể hiểu nổi chúng”.
Những trường hợp tương tự vẫn diễn ra hằng ngày tại Hollywood. Russell Crowe đã kiên quyết từ chối vai Wolverine, và chính ông đã giới thiệu Hugh Jackman cho đoàn làm phim. Tom Cruise trong suốt mười năm vẫn luôn là ứng cử viên hàng đầu cho vai Iron Man, nhưng ông lại cho rằng dự án này chắc chắn thất bại. Chính điều này đã khiến đoàn làm phim phải chuyển hướng tìm đến Robert Downey Jr. Denzel Washington cho rằng bộ phim “Se7en” “quá u ám và tà ác, sẽ chẳng ai thích”, và nhờ vậy mới có vai diễn kinh điển của Brad Pitt trên màn ảnh. Vô số ví dụ như vậy, nên người đời vẫn thường nói: ngàn vàng khó mua điều đã biết trước.
Giờ đây, Anson cũng cần rèn giũa mối quan hệ này cùng Edgar, đây cũng là một thử thách hoàn toàn mới mẻ. Có thể Anson nắm giữ ký ức về hai mươi năm tương lai, nhưng hắn vẫn phải thông qua Edgar, mới có thể từng bước tìm thấy những dự án điện ảnh mà mình quan tâm. Hiện tại, thông qua năm kịch bản này, Anson đã có thể thấu hiểu một phần gu thẩm mỹ của Edgar, và điều bất ngờ là nó lại phù hợp với định h��ớng của Anson. Đây là một khởi đầu tích cực.
“50 First Dates”, một bộ phim hài tình cảm thuần túy và giản dị, kể về câu chuyện một người đàn ông yêu một cô gái mắc chứng mất trí nhớ ngắn hạn. Nữ chính mắc chứng mất trí nhớ ngắn hạn do tai nạn xe cộ, mỗi sáng thức dậy đều quên hết mọi chuyện đã xảy ra vào ngày hôm trước. Vì vậy, nam chính buộc phải khiến cô ấy yêu mình lại từ đầu mỗi ngày. Nếu là trong cuộc sống thực, điều này có thể khiến người ta suy sụp và cuối cùng chọn chia tay. Nhưng điện ảnh vẫn là điện ảnh, khi nhìn nhận qua lăng kính hài kịch, nó mang đến những cảm nhận khác biệt. Mỗi lần gặp gỡ đều trở thành một khởi đầu hoàn toàn mới, tựa như mối tình đầu, khiến họ chìm đắm trong tình yêu hết lần này đến lần khác, một sự lý giải lãng mạn đến tột cùng. Đặt vào hai mươi năm sau, ở thời đại con người không còn tin vào tình yêu nữa, thể loại phim này đã vắng bóng. Thế nhưng, vào đầu thế kỷ 21, phim tình cảm lãng mạn vẫn chiếm lĩnh một thị trường rộng lớn, thậm chí có thể được xem là một hình thức khác của tình yêu thuần khiết.
Ở kiếp trước, bộ phim này do Adam Sandler và Drew Barrymore thủ vai chính. Cả hai đều là những gương mặt quen thuộc của phim hài. Adam thậm chí suốt ba mươi năm, vẫn vào vai những nhân vật chất phác, trung thực nhưng cũng đầy hài hước và buồn cười. Chính vì sự hiện diện của Adam, bộ phim một lần nữa rơi vào lối mòn mang thương hiệu “phim Adam Sandler”, nơi yếu tố hài hước lấn át yếu tố tình yêu. Do đó, việc giới phê bình điện ảnh chuyên nghiệp chỉ trích là điều dễ hiểu. Trên Metacritic, điểm số chỉ đạt 48. Rõ ràng, chất lượng phim không thể làm hài lòng công chúng. Thế nhưng trên thực tế, khán giả lại sẵn lòng bỏ tiền mua vé. Bất kể đánh giá danh tiếng ra sao, không ít khán giả cho rằng đây là một bộ phim khiến người ta tin vào tình yêu và khao khát tình yêu, đó chính là một loại thành công. Cuối cùng, bộ phim đạt doanh thu phòng vé gần 200 triệu đô la trên toàn cầu. Tuy nhiên, vì cát-xê của Adam khá cao, chi phí sản xuất lên tới gần 75 triệu đô la, nên bộ phim không những không kiếm được lời mà còn lỗ vốn. Ngờ đâu, tình thế lại xoay chuyển. Sony Columbia đã kiếm bộn tiền thông qua doanh thu từ DVD và thuê băng đĩa, một lần nữa chứng minh tiềm năng thị trường của thể loại hài kịch lãng mạn.
Trong mắt Edgar, kịch bản này có thể xây dựng hình tượng Anson là người đàn ông si tình, đồng thời những chàng soái ca hài hước vĩnh viễn có thể chiếm được trái tim của phái nữ. Còn trong mắt Anson, điểm đáng quý của dự án này nằm ở chỗ, tạm gác lại danh tiếng và doanh thu phòng vé, nó có thể cho phép hắn thử sức với thể loại hài kịch. Sau khi đã thử sức nhẹ nhàng với phong cách chính kịch trong “Nhật ký công chúa” và “Bắt tôi nếu có thể”, giờ đây hắn có thể thực sự thử thách bản thân với thể loại hài kịch, khai thác những yếu tố hài kịch tiềm ẩn trong mình. Đây không nghi ngờ gì là một cuộc phiêu lưu, một cuộc phiêu lưu đầy phấn khích và hứng khởi. Ý tưởng này, quả không tồi. Với điều kiện là, không có một kịch bản nào khác tốt hơn.
Lần đầu tiên nhìn thấy tên bộ phim “Eternal Sunshine of the Spotless Mind”, mọi người thường hoang mang, không thể nào hiểu rõ nội dung bộ phim là gì. Thực tế, liên quan đến cái tên này còn có một vài giai thoại thú vị. Kịch bản này là tác phẩm của biên kịch thiên tài Hollywood, Charlie Kaufman. Vị biên kịch với tư duy phóng khoáng này trong mùa trao giải năm nay đã cống hiến một tác phẩm có cấu trúc lồng ghép mang tên “Adaptation”, với kịch bản đan xen phức tạp khiến người ta choáng váng. Ngoài ra, danh sách tác phẩm của ông còn bao gồm “Being John Malkovich”, “Confessions of a Dangerous Mind”, “Synecdoche, New York” và “Anomalisa”, vân vân. Charlie Kaufman là một biên kịch yêu thích suy tư triết học, nghiên cứu về cuộc đời con người. Ông thường xuyên đào sâu vào giá trị của ký ức, giá trị sự tồn tại của bản thân, v.v. Bởi vậy, kịch bản của ông thường có tư duy phóng khoáng nhưng lại khiến người xem như lạc vào sương mù. Tác phẩm “Eternal Sunshine of the Spotless Mind” có thể nói là kịch bản mà ông đã đạt được sự cân bằng hoàn hảo nhất giữa nghệ thuật và thương mại, giữa tính triết lý và tính đại chúng.
Nếu dịch thẳng từ tiếng Anh, tên bộ phim “Eternal Sunshine of the Spotless Mind” đến từ một bài thơ của thi nhân người Anh Alexander Pope, mà bài thơ đó lại dựa trên một bi kịch tình yêu của Pháp từ thế kỷ XII. Một cái tên đậm chất văn học như vậy, khi được dịch sang tiếng Hán, lại dựa trên câu thơ “Lời răn” của Thôi Viện thời Đông Hán, “niết quý bất truy” (không truy cầu niết bàn), và định nghĩa “ái ái ẩn chứa quang”. Hàm ý là ánh sáng ẩn chứa bên trong vẻ ngoài u tối, không rõ ràng. Thế nhưng, trong quá trình truyền bá, chữ “ái” (靄) đã bị nhầm thành “ấm” (曖). Dần dà, “ái ái ẩn chứa quang” cũng trở thành phiên bản quen thuộc với hậu thế của “Eternal Sunshine of the Spotless Mind”. Nói một cách chính xác, “ái ái ẩn chứa quang” mới càng phù hợp với ý cảnh mà Charlie Kaufman muốn truyền tải qua tựa đề gốc của bộ phim “Eternal Sunshine of the Spotless Mind”.
Bộ phim kể về một cặp tình nhân yêu nhau nhiều năm. Bỗng một ngày, người đàn ông phát hiện bạn gái hoàn toàn không nhớ gì về mình. Sau khi điều tra, anh mới biết cô bạn gái đã đến một phòng khám để xóa bỏ toàn bộ ký ức về hai người họ. Trong nỗi chán nản tột cùng, anh cũng trong cơn tức giận mà đến phòng khám đó để xóa bỏ ký ức. Thế nhưng, trong quá trình ký ức dần biến mất, anh đột nhiên bắt đầu hối hận, dốc toàn lực cố gắng giữ lại những gì từng thuộc về hai người họ. Bộ phim đã sử dụng thủ pháp độc đáo để thể hiện cảnh tượng ký ức đổ vỡ và biến mất, đồng thời mang đến những góc nhìn khác biệt về mối quan hệ tình cảm và giá trị của ký ức. Điều này một lần nữa thể hiện sức tưởng tượng bay bổng của Charlie Kaufman với tư cách là một biên kịch. Cái tên “Eternal Sunshine of the Spotless Mind” ám chỉ rằng, ngay cả sau khi quên đi đau khổ để có được một trí nhớ hoàn mỹ không tì vết, vẫn tồn tại một tia nắng vĩnh cửu có thể chiếu rọi sâu thẳm vào ký ức, thắp sáng hạnh phúc. Cái gọi là hoàn mỹ chưa chắc đã là hoàn mỹ, mà chính tia nắng ấy mới là ý nghĩa thực sự. Cuộc sống không nên chỉ có những điều tốt đẹp, mà cả đau khổ và hạnh phúc đều đáng được trân trọng như nhau.
Truyen.free giữ độc quyền toàn bộ nội dung dịch thuật này.