(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 70: Đưa người qua sông
Bát Vạn là một tòa thành lớn và kiên cố, bao quanh là hào sâu cắm chông tre. Tường thành cao đến ba trượng, sát chân hào có hàng rào tre gai dày đặc, trên mặt thành bố trí dày đặc các tháp canh.
Thành Bát Vạn có hình chữ nhật, diện tích gần ba cây số vuông, lưng tựa vào núi Vạn – một ngọn núi thấp. Phía trước thành có con mương lớn chảy ra sông Thiên Đức. Bên trong thành là đồn trại, nhà cửa, dinh thự và công đường. Khoảng bảy nghìn quân sĩ của Sứ tướng Nguyễn Quốc Khánh đồn trú trong thành Bát Vạn; các trại nhỏ, mỗi trại khoảng năm trăm quân, được bố trí hình rẻ quạt xung quanh thành. Tổng quân số trong và ngoài thành ước chừng một vạn hai. Ở những vùng đất xa hơn thuộc quyền cai quản, mỗi trại sẽ có khoảng một trăm quân sĩ đóng giữ.
Bên ngoài thành, về phía Nam và Bắc là các khu nhà ở, dinh thự, lầu gác của quan lại, chức sắc phục vụ trong bộ máy cai trị của Vũ Ninh vương.
Cách thành Bát Vạn chừng hai dặm là nhiều làng mạc xen kẽ những cánh đồng lúa. Một trong số đó, ngôi làng Đa Hội, là một làng lớn chuyên rèn sắt phục vụ cho sứ quân Vũ Ninh vương. Hơn ba phần tư dân làng làm nghề này, số ít còn lại là gia đình của những tướng sĩ cấp thấp thuộc quyền Sứ tướng.
Đã 26 Tết, trong làng không còn rộn rã tiếng leng keng nện búa rèn sắt. Nguyệt cùng Ngân, một bé gái trong đội trinh sát, đến làng Đa Hội vào chiều tối, tìm việc dọn dẹp nhà cửa đón Tết cho các nhà hào phú hoặc những gia đình có chồng là tướng sĩ trong thành Bát Vạn. Nguyệt đã nhắm đến hai ngôi nhà nhỏ nhưng khang trang ở gần đầu làng, đó là nhà của Lý Văn Ba và Chu Diện. Theo thông tin Lượng đưa sang, nhà Lý Văn Ba có vợ và hai con, đứa nhỏ mới chập chững biết đi. Nhà Chu Diện thì có mẹ già gần sáu mươi, hai cô vợ cùng năm đứa con. Đứa lớn nhất của Chu Diện đã mười lăm, đứa nhỏ nhất mới lên ba. Cả hai gia đình Chu Diện và Lý Văn Ba đều không phải dân gốc làng này. Lý Văn Ba là người tộc Sán Dìu, còn Chu Diện quê gốc ở một làng khác thuộc châu Vũ Ninh.
Nguyệt và Ngân đứng ngoài cổng tre, vẻ ngoài lấm lem, đói rách đã thu hút sự chú ý của vợ Lý Văn Ba. Người phụ nữ một tay bế con, tay còn lại dắt theo một bé trai chừng năm tuổi đi ra. Nguyệt thoáng bất ngờ khi thấy cô quấn khăn trắng trên đầu, nét mặt phảng phất u buồn. Nguyệt mở lời, nhưng người phụ nữ cho biết nhà không cần dọn dẹp đón Tết vì đang có tang.
Nguyệt van nài vì trời sắp tối, mong gia chủ thương tình cho tá túc dưới bếp qua đêm tránh rét. Người phụ nữ thở dài, mềm lòng, hé cánh cổng phên tre vừa đủ để Nguyệt và Ngân lách vào. Nhìn hai cô gái ăn mặc phong phanh, da dẻ tím ngắt vì lạnh, thật khó mà kìm lòng.
- Nhà tao chỉ có ba mẹ con, trong bếp còn ít cơm nguội, hai chúng bay ăn cho đỡ đói lòng.
Nguyệt và Ngân bước nhanh vào căn bếp nhỏ vách đất, mái ngói vẫn còn mới, cạnh một khoảng sân con cũng được lát gạch. Người phụ nữ dẫn con vào nhà rồi ngồi thẫn thờ bên chiếc bàn uống nước bằng gỗ trông còn khá mới. Trên ban thờ đặt một bát cơm úp quả trứng và ba nén hương đang tỏa khói nghi ngút.
Nguyệt đến bên cửa nhà, khẽ nhíu mày nhìn ban thờ. Cô lên tiếng:
- Chị ơi, nhà mình đang có tang, có phải chị để tang chồng không ạ?
Người phụ nữ khẽ gật đầu, hướng mắt lên ban thờ rồi nói:
- Tao cúng cơm cho chồng, qua Tết là thất tuần.
- Anh nhà có phải tướng trong sứ quân không ạ?
- Phải rồi.
Nguyệt mạnh dạn bước qua bậc cửa, hạ giọng hỏi:
- Có phải anh là tướng quân Lý Văn Ba, phó tướng của Trương Lôi tướng quân không ạ? Anh ấy mới hơn ba mươi, người tộc Sán Dìu, phải không chị?
Người phụ nữ nén tiếng thở dài, khẽ gật đầu rồi vỗ nhẹ mông đứa con đang bế trên tay, không mấy để tâm đến câu hỏi của Nguyệt. Nhìn dáng vẻ ưu buồn của chị ta, trong lòng Nguyệt dâng lên chút thương cảm. Đây hẳn là tình cảm chung của những người thân binh sĩ trong thời loạn lạc.
- Anh Ba sai em về đây gặp chị, em tên Nguyệt.
Người phụ nữ sững lại trong giây lát rồi quay lại, nhướng mày nhìn Nguyệt từ đầu xuống chân.
- Cô đây nói vậy là có ý gì?
Nguyệt ngoái nhìn ra cửa, thấy Ngân đã bưng bát cơm nguội ngồi ở góc sân, hướng mắt ra cổng.
- Thưa chị, anh Ba chưa chết, anh ấy còn sống và dặn em về báo cho chị biết.
- Thời buổi nhiễu nhương này thật giả khó phân, mày đói lòng tao đã cho cơm ăn, ăn xong thì đi đi.
Nguyệt tiến lại gần, lấy từ trong người ra một miếng gỗ nhỏ có khắc chữ Hán ở hai mặt, một lỗ nhỏ cùng sợi chỉ đỏ. Vừa nhìn thấy vật này, mặt người phụ nữ liền biến sắc. Nguyệt nói:
- Anh Ba dặn em, cứ đưa thứ này ra là chị sẽ hiểu.
- Mày… mày… từ đâu mày có thứ này?
Người phụ nữ giật phắt mi��ng gỗ từ tay Nguyệt rồi nhìn cô trừng trừng.
- Anh Ba đưa cho em, em tên Nguyệt. - Nguyệt nhắc lại. - Anh Ba chưa chết, sao chị lại lập ban thờ?
- Mày nói láo, chồng tao mất khi dẫn quân sang đánh bọn bên sông.
Nguyệt ra dấu bảo người phụ nữ nói nhỏ:
- Anh Lý Văn Ba là phó tướng của Trương Lôi tướng quân. Anh ấy vẫn khỏe mạnh và bây giờ đang là tướng của Thiên Gia Bảo Hựu.
- Mày nói láo, tao sẽ hô hoán mọi người bắt mày lại. Mày là ai?
- Chị là Gấm, bé trai này tên Dũng còn bé gái là Hoa. - Nguyệt vội nói nhanh toàn bộ những điều Lý Văn Ba đã dặn và cô được truyền đạt lại. - Anh Ba bây giờ là tướng quân Thần Sách. Ở bên này, Tả tướng quân Kiều Công Ngạn đã loan tin bọn họ tử trận nhưng không phải đâu. Ngoài anh Ba còn có tướng quân Chu Diện, người đang chỉ huy quân Thánh Dực. Đây là tin mật, em phải vượt sông đến đây báo cho chị. Anh Ba gửi tín vật để đảm bảo em là người của anh ấy.
- Mày… mày nói thật chứ?
- Một nghìn quân thuộc quyền Trương Lôi tướng quân nay đã theo về bên Thiên Gia Bảo Hựu. Tin tức này sớm muộn sẽ loan ra, nên nếu chị muốn gặp anh Ba thì chỉ còn cách qua sông. Nay mai hai bên giao chiến, chị và hai cháu sẽ là con tin để Vũ Ninh vương gây sức ép với anh Ba. Tất cả những gì em vừa nói với chị đều là thật, anh Ba dặn có vài chuyện chỉ hai vợ chồng biết nên chị sẽ tin.
- Thế… thế bây giờ tao phải làm sao?
Người phụ nữ bắt đầu lúng túng, hết nhìn Nguyệt rồi lại nhìn ban thờ.
- Đi hay ở là quyền chị. Nếu chị quyết định đi, bọn em sẽ có người đưa chị đi. Chuyện này bí mật, nếu lộ ra thì không ai trong chúng ta sống sót được.
- Sao có thể? Chính người của Sứ tướng đến báo tin chồng tao tử trận, vậy mà giờ mày…
- Trương Lôi tướng quân và anh Ba nhà mình bị bắt sống cùng Chu Diện. Một số chạy thoát về, một số bị thương được thả về, số tử trận được chôn cất đàng hoàng. Do Kiều Công Ngạn không cử binh ứng cứu, bỏ mặc quân lính nên anh Ba cùng nhiều người khác mới trở giáo. Chị suy tính kỹ đi, nếu đi thì đi sớm, vì nếu biết bọn em qua đây thì bờ sông sẽ bị phong tỏa, vợ chồng sẽ ly tán.
- Đi… đi kiểu gì? Còn… còn nhà cửa, ruộng vườn của tao?
- Anh ấy là tướng thì ở đâu cũng là tướng. - Nguyệt nói. - Nơi ăn chốn ở đã được sắp đặt sẵn, chị không phải lo.
- Mày… mày là quân của anh ấy thật chứ?
- Em không phải trực tiếp là quân của anh ấy, nhưng trong quân đội bên Thiên Gia Bảo Hựu, gia quyến tướng sĩ được coi là gia quy���n của toàn quân nên bọn em có trách nhiệm phải lo liệu. Nếu chị không đi cũng được, sau này thi thoảng bọn em sẽ đến tiếp tế lương thực và gửi tiền lương của anh ấy cho chị. Thời gian không có nhiều, bọn em còn phải qua nhà Chu Diện tướng quân nữa.
- Khoan… khoan đã!
Người phụ nữ giữ cánh tay Nguyệt.
- Tao… tao tin mày nhưng gấp quá tao chưa biết phải làm sao. Tao muốn đi nhưng… nhưng tao sợ!
Nguyệt ngẫm nghĩ trong giây lát rồi nói:
- Vậy thế này, nếu chị tin em thì em sẽ dẫn bé Dũng đi ngay. - Nguyệt chỉ ra sân. - Kia là cái Ngân, nó sẽ tạm ở lại đêm nay. Chị thu vén đồ đạc, càng gọn nhẹ càng tốt. Sáng mai em gặp chị ngoài chợ được không?
Người phụ nữ nhìn Nguyệt rồi nhìn cậu con trai bé nhỏ. Lúc này, cô đã phần nào trấn tĩnh lại bởi mảnh gỗ buộc chỉ đỏ kia chính là tín vật cô tự tay làm, một lá bùa bình an mà cô trao cho chồng nhiều năm trước khi mới cưới. Giờ có người đến nói những chuyện bí mật trong gia đình như vậy thì dù không muốn tin cũng khó. Thời buổi loạn ly, hôm nay theo phe này, mai thành quân bên khác cũng chẳng có gì lạ.
- Được, tao giao con tao cho mày. Nếu mày lừa tao thì đời này tao sẽ nguyền rủa mày đến chết.
- Chị yên tâm.
Nguyệt quay người định ra cửa thì vợ Ba kéo lại hỏi:
- Mày đi đâu?
- Em phải qua nhà Chu Diện tướng quân, xong việc em sẽ quay lại đưa con chị đi.
- Để tao! Tao biết hai bà ấy nên sẽ nói chuyện dễ hơn mày. Bây giờ mày đưa con tao đi ngay. Đây là giọt máu của anh ấy, nếu tội làm phản mà lộ ra thì e là tao chẳng thể sống nổi ở làng này nữa.
Nguyệt ngẫm nghĩ rồi gọi Ngân vào, dặn đưa con trai của Lý Văn Ba đến điểm hẹn. Xong việc, Ngân phải quay lại chờ ở đầu làng, ám hiệu liên lạc vẫn như cũ.
Vợ Lý Văn Ba cuống cuồng thu dọn quần áo cho con trai, cũng chỉ vỏn vẹn mấy bộ quần áo, vài củ khoai sống, túi ngô và nắm muối gói ghém trong một tay nải. Vợ Ba dặn con trai phải nghe lời chị, theo chị đi gặp cha. Ngân nhận lệnh của Nguyệt rồi cõng bé Dũng ra khỏi cổng nhà khi trời vừa chập tối.
Người sống trong thời loạn khác với người sống trong thời bình và trẻ con cũng thế. Cuộc sống thường nhật yên bình thật mong manh.
Nguyệt theo vợ Ba, tên Gấm, đến gặp hai bà vợ của Chu Diện gần đó. Bốn người phụ nữ thì thào trong khu vườn tối đen, lạnh buốt. Nguyệt cũng đưa tín vật cho vợ Chu Diện, đó là một đồng xu khá dày có khắc vài ký tự. Hai cô vợ của Chu Diện tin rằng Chu Diện chưa chết bởi từ khi dẫn quân sang bờ Nam thì ông bặt vô âm tín. Một trong hai cô vợ từng nghe ngoài chợ người ta kháo nhau rằng quân Trương Lôi mười người đi chỉ có một thất thểu trở về, nghe nói trúng kế, quân tướng bị bắt sống hết cả, nhưng Sứ tướng cũng cho người đến báo tin Chu Diện đã tử trận. Hơn nữa, Chu Diện lại không thuộc quyền Trương Lôi, một đội quân ba trăm người không thể cứ thế mà biệt tăm. Sống phải thấy người, chết phải thấy xác. Dù đã khóc cạn nước mắt, nhưng hy vọng mong manh về việc chồng bị bắt sống nay bùng lên khi biết chồng họ không tử trận mà đang là tướng bên kia. Người ta thường bảo phụ nữ dễ tin người, trong trường hợp này, những người phụ nữ ấy may mắn đã tin đúng người.
Vợ Lý Văn Ba, hai vợ của Chu Diện cùng nhiều người phụ nữ khác đều biết rõ, nếu chồng họ thực sự phản bội thì đất này cũng chẳng còn chốn dung thân cho họ. Họ phải khăn gói trốn đi sớm nhất có thể nếu còn muốn có nhiều cái Tết.
Nửa đêm, trời rét cắt da cắt thịt, Nguyệt dẫn vợ Lý Văn Ba cùng một cô vợ của Chu Diện và năm đứa con. Mỗi người một tay nải, ra đến đầu làng thì gặp Ngân đã chờ sẵn. Tất cả vội vàng băng đồng, bỏ lại sau lưng vài tiếng chó sủa nhấm nhẳng vọng ra từ trong xóm. Họ đi qua những thửa ruộng, lội bùn về hướng đầm lầy trong bóng tối. Do phải lòng vòng tránh các trại quân và đồn gác nên phải hơn nửa canh giờ Nguyệt mới đến được điểm hẹn. Hai cô vợ cảm thấy yên tâm hơn – chắc chắn là vậy – khi nhận ra trong số những người ẩn nấp trong bụi rậm chờ đợi có cả lính tráng thân cận của chồng. Họ không thể sang sông ngay vì giờ hẹn đón là lúc gà gáy sáng. Cả đoàn hơn chục người lớn bé đành qua đêm ngay trên bờ ruộng, bên những lùm cây trong những cơn gió lạnh không ngừng thổi.
Nguyệt một mình quay lại khu chợ gần làng Đa Hội ngay trong đêm, chờ đến tờ mờ sáng khi người ta bắt đầu bày hàng ra thì vợ và mẹ của Chu Diện đến. Họ có hai tay nải và… một lồng gà! Sau khi mua vội mấy cái bánh đúc nóng, ba người phụ nữ già trẻ cầm theo lồng gà đi luôn.
Cận Tết, ba người phụ nữ với lồng gà bước nhanh qua một làng rồi đi tắt qua cánh đồng để đến điểm hẹn khi trời sáng rõ. Tất cả bọn họ được thuyền nhỏ do Yết Kiêu đón đưa qua sông, trùng phùng trong nước mắt và những cái ôm. Nguyệt vẫn ở lại chờ nhóm của Tôn và các nhóm khác. Trước Giao thừa, tất cả gia quyến của tướng lĩnh theo cờ Thiên Đức đều được đưa qua sông một cách êm thấm. Nhóm Nguyệt cũng được lệnh rút về tạm nghỉ, chờ qua Tết sẽ tiếp tục tiến hành các kế hoạch dang dở.
Lượng trách ông thầy vì sau hai tháng đi lại như con thoi, Nguyệt đã gầy rộc. Chương cũng chỉ biết im lặng, bởi một khi đã dấn thân, người ta ắt sẽ phải đánh đổi điều gì đó. Mãi sau Chương mới nói với Lượng:
- Những gì cô ấy làm được nhất định sẽ được công nhận. Bên kia còn cha và anh trai cô ấy, ta còn nợ hai mẹ con bà Cả Ngư một lời hứa. Nguyệt không quản khó khăn cũng một phần là muốn tìm anh trai giữa chốn ba quân.
Làng Lôi và Thiên Bình đã bắt đầu có bóng dáng phụ nữ, dù không nhiều. Tả Đô đốc Phạm Tu đã cấp gạo, ngũ cốc, gia cầm cùng hơn chục con trâu cho hai làng. Nhưng để đảm bảo phòng gian giữ mật, tạm thời người dân trong hai làng mới đều không ra chợ. Những người lính trong hai làng này tỏa vào rừng kiếm củi, săn bắn, đào củ đều chia thành nhóm nhỏ, khiến dân trong vùng chỉ nghĩ họ là quân Thiên Đức.
Chương đến thăm từng gia quyến mới đến, nhận những lời cảm ơn của họ, đồng thời động viên, nhắn nhủ họ rằng đây là làng của họ, hãy cùng nhau gây dựng và bảo vệ bằng mọi giá. Mẹ Chu Diện hay vợ Lý Văn Ba cùng những phụ nữ khác đều chung một thắc mắc: vì sao chủ tướng mà chồng họ đang phò tá lại trẻ đến vậy mà ăn nói vô cùng đĩnh đạc.
Thấy Chương đối đãi trọng thị với gia quyến các vị tướng, các binh sĩ cũng bắt đầu mong mỏi được đón người thân – dù chỉ một người – sang bờ Nam. Đây là một bài toán khó mà Chương muốn giải quyết sớm, giải quyết triệt để nhằm yên lòng quân và tạo động lực cho họ.
Mọi bản quyền tác phẩm này đều thuộc về truyen.free, nơi lưu giữ những câu chuyện của chúng ta.