(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 609: Phan Kế An tha hổ về rừng
Một toán quân đuổi theo Đào Khiêu hơn trăm trượng, nhận thấy Đào Khiêu không có ý định giao chiến, viên chỉ huy toán quân sợ trúng phục binh nên ra lệnh dừng lại. Ngoảnh nhìn lại phía sau, thấy Bùi Sơn Lâm đang bị chặn đánh, mà Trương Bồ thì đã biến mất, viên chỉ huy bèn dẫn quân quay lại, định tấn công vào sườn bên phải của Nguyễn Lạc Thổ, trợ chiến cho chủ tướng. Đào Khiêu thấy địch không truy cũng chẳng chạy nữa, lại thấy địch có ý định tấn công chủ tướng của mình, liền dẫn hữu đội đuổi theo. Hành động này của Đào Khiêu khiến viên chỉ huy toán quân vừa truy đuổi rơi vào tình thế lúng túng. Nếu đánh vào trung quân của Thiên Đức, họ sẽ bị Đào Khiêu bủa vây từ phía sau; mà đuổi theo Đào Khiêu thì hắn lại chạy trốn. Cuối cùng, toán quân này quyết định quay về đội hình ban đầu, giúp chủ tướng tiêu diệt đám cản đường.
Lúc này, Bùi Sơn Lâm tiến lên không được, thuộc hạ lần lượt ngã xuống trong tiếng đì đùng của tên đạn. Lâm như phát điên, vung đao đánh tả, chém hữu, đâm thẳng vào giữa, chẳng còn chiêu thức gì nữa, cốt sao đánh dạt toán xạ tiễn đang chắn đường để trừ bỏ những tay súng kia.
Trận chiến đang lúc ác liệt, bất chợt từ phía Nam vang lên tiếng reo hò của ba quân. Bùi Sơn Lâm ngoảnh nhìn, thấy từ đằng xa hàng nghìn binh sĩ Thiên Đức đang ồ ạt kéo đến thì rụng rời tay chân. Ông ta vội hô quân tháo chạy.
Biết quân nhà sắp đến, tướng địch lại đang ở ngay trước mặt, không thể để hắn trốn thoát. Đám lính hỏa khí lúc này mới rút đao cận chiến. Đào Khiêu cũng vừa dẫn binh đến, cán cân lực lượng nghiêng hẳn về phía Đào Khiêu vì nhiều thuộc hạ của Bùi Sơn Lâm đã bị thương, chẳng còn sức chiến đấu. Bùi Sơn Lâm chẳng còn thiết tha đâm chém, chỉ muốn tìm đường thoát thân cho nhanh nhưng luôn bị cản lối. Sau một lúc mải mê mở lối, Ngọa Hổ tướng ngoái nhìn lại, giật mình kinh sợ khi thấy chỉ còn mấy chục thuộc hạ theo sát, phần còn lại đã bị chia cắt mất rồi. Chẳng còn thời gian suy nghĩ, Bùi Sơn Lâm múa thanh đại đao mở đường, đánh dạt được quân Hoan Châu, rồi cắm đầu cắm cổ chạy thật nhanh về hướng Đông Bắc.
Đội quân của Bùi Sơn Lâm thấy chủ tướng đã tháo chạy cũng không còn lòng dạ chiến đấu, liền kéo nhau chạy về phía bên phải, nơi Đinh Đệ vẫn đang khốn đốn. Đệ không giải quyết được đối thủ, mà quân Thiên Đức tiếp viện đã đến rất gần rồi, chậm chân sẽ khó thoát nên Đệ vội hô binh tháo chạy về hướng Tây Bắc. Quân sĩ Hoan Châu thắng thế, tinh thần lên cao, hò nhau đuổi bắt Đinh Đệ cho kỳ được.
Đệ sai thuộc hạ chặn hậu, còn mình thì vắt chân l��n cổ chạy thật nhanh. Thuộc hạ của Đệ nào còn tinh thần chiến đấu, phần lớn đều vứt khí giới giơ tay xin hàng, rất nhiều kẻ bị bắt. Đệ cùng một số thuộc hạ ngửa mặt lên trời mà chạy, bỏ xa quân truy một quãng dễ chừng hơn một dặm. Khốn nỗi nơi này bốn bề hoang vắng, bụi tre làng gần nhất chỉ bé cỏn con, xa tít phía chân trời. Lúc Đinh Đệ nghĩ mình sẽ tạm thoát được, ngoái cổ nhìn lại chỉ biết than thầm vì đằng sau thấp thoáng bóng dáng mấy quân kỵ đang đuổi gấp. Hai chân khó mà nhanh bằng bốn chân, xung quanh lại chẳng có nơi ẩn nấp, mà bờ sông thì còn đến mấy dặm.
Biết chạy không thoát, Đinh Đệ dừng chân thở dốc. Mấy mươi thuộc hạ cũng thở hồng hộc, một vài kẻ đuối sức tụt hẳn lại phía sau. Mấy quân kỵ Thiên Đức chẳng thèm ngó đến đám lính quèn, thúc ngựa vòng lên phía trước chặn đầu Đinh Đệ. Đinh Đệ thấy quân Thiên Đức còn xa, nghĩ bụng nếu trừ được đám kỵ binh này sẽ cướp ngựa mà chạy. Nghĩ vậy, Đinh Đệ nén cơn mệt nhọc, rút hai cây roi da cất sau lưng ra, quất "chát" một tiếng xuống đất để thị uy.
Mấy quân kỵ vốn là thám mã, được giao nhiệm vụ truy kích, tự lượng sức mình chẳng địch nổi tướng địch nên chúng tản ra, giữ khoảng cách với Đinh Đệ và bọn hắn. Đệ rất dũng mãnh, dùng roi thành thục, dư sức địch dăm bảy tên lính quèn nhưng quân kỵ chỉ đeo bám nên hai cây roi trong tay Đệ chẳng có cơ hội phát huy tác dụng. Đệ tiến lên, quân kỵ lùi. Đệ đuổi thì quân kỵ phi nước đại. Thế mà mấy tên quân kỵ còn cười sằng sặc chế giễu khiến Đệ tức ói máu.
Đệ lệnh đám thuộc hạ chia nhau xông lên để mình có đường thoát thân. Mấy quân kỵ lại thúc ngựa chạy ra nhiều hướng, luôn để mắt đến Đệ. Cứ cù cưa như vậy thêm độ một khắc, có thêm vài quân kỵ nữa kéo đến. Quân Hoan Châu cũng chỉ còn cách hai tầm tên nữa mà thôi.
Đinh Đệ và đám tàn binh bị vây chặt vào giữa. Đệ không cam lòng, luôn miệng gào thét bảo quân Hoan Châu xông vào mà bắt mình. Trần Quan Sơn đến, khắp người nhễ nhại mồ hôi dù trời đang lạnh. Chờ đến lúc hơi thở ổn định, Trần Quan Sơn một tay chống nạnh, một tay chỉ thẳng mặt yêu cầu Đinh Đệ quy hàng, nếu không sẽ hạ lệnh giết sạch thuộc hạ. Đinh Đệ không dễ dàng nghe theo. Trần Quan Sơn sai quân bắn bị thương một vài thổ binh. Lập tức, các thổ binh khác vứt khiên giáo, ngồi thụp xuống xin hàng.
Đinh Đệ như con hổ bị thương, hai mắt vằn lên những tia máu, quyết một phen sống mái, nhào đến tấn công Trần Quan Sơn. Đệ chưa kịp ra roi thì hai mũi tên đã cắm phập vào bên đùi trái. Quân Hoan Châu giơ khiên sắt che đầu, ào đến đè ngửa Đinh Đệ ngã ra đất rồi khống chế. Đệ bị trói chặt như gói bánh chưng. Quân lính dùng giáo làm đòn khiêng Đệ về trình chủ tướng. Thuộc hạ của Đệ, cứ ba người bị trói tay chung vào một ngọn giáo, theo hàng dọc cúi đầu lầm lũi bước theo sau.
Lúc này mặt trời đã treo gần trên đỉnh đầu.
Theo lệnh của Nguyễn Lạc Thổ, Trần Quan Sơn đối đãi với tù binh rất tử tế. Cho họ ngồi ở nơi khuất gió, phát cho mỗi người một chiếc áo khoác cũ, cho ăn cơm nóng với canh rau rừng và ruốc mặn làm từ củ cải khô, nấm rừng. Trần Quan Sơn cũng tranh thủ tuyên truyền về tấm lòng nhân đức của Vạn Thắng Vương, nói rằng không ai bị đánh đập, và chờ Vạn Thắng Vương nghị hòa với các quan lang sẽ thả họ về! Thổ binh nghe xong ai nấy đều gật đầu, thật giả chẳng biết đâu mà lần. Việc này gieo vào lòng họ hy vọng về ngày trở về bản mường, điều đó đồng nghĩa với việc đánh quỵ chút ý chí phản kháng cuối cùng của các thổ binh.
Sáng hôm sau, tất cả tù binh được áp giải về thành Sơn Tây. Tại đây, người có chức trách phân loại tù binh thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm độ dăm ba mươi người, rồi lần lượt đưa xuống thuyền chở thẳng đến lộ Mạo Khê, lộ Lạng Giang. Các tù binh sẽ phải lao động không công ít nhất một năm. Đường về Mường Động xa hay gần sẽ tùy thuộc vào thành tích đốn gỗ, xúc than, đập đá làm đường, khai khoáng của họ.
Nói đến Hà Duy, lúc hai bên giáp trận, Hà Duy nằm đơ như khúc gỗ bên cạnh mô đất, trừng mắt nhìn trận chiến, nước mắt trào ra, lòng đầy căm hận. Quân thua chạy tán loạn, nào còn ai nhớ đến Hà Duy nữa.
Với những tù binh đặc biệt như Hà Duy, Đinh Đệ hay Bùi Lạc Thủy thì cách đối đãi lại khác hẳn. Cả ba bị giam ở thành Sơn Tây. Cơm nước có nữ nhân hầu hạ ba bữa một ngày, nằm thì có nệm rơm. Mấy ngày đầu, bọn Bùi Lạc Thủy mắng chửi thậm tệ, lôi cả tổ tiên Vạn Thắng Vương về chầu trời. Có điều, bọn Thủy chửi bằng tiếng Mường, lính canh nhận lệnh trên cứ để mặc chúng chửi chán thì thôi.
Chửi mà không ai chửi lại thì nhanh chán lắm!
Những nữ nhân phục dịch cho ba tướng xứ Mường là người ở các nơi khác nhau. Nhận lệnh cấp trên, mỗi lần đem cơm đều ăn mặc trễ nải, trời lạnh cũng chỉ mặc có cái yếm đào mỏng dính. Mặc cho các ông tướng chửi bới, những nữ nhân phục dịch chỉ cúi đầu vâng dạ.
Bùi Lạc Thủy biết kế mỹ nhân của Thiên Đức. Biết là một chuyện, nhưng cưỡng lại cám dỗ được hay không lại là chuyện khác. Dăm bảy ngày thì chẳng đáng là gì, nhưng nửa tuần trăng cũng đủ để phải nhớ nhung hai trái đào tiên lấp ló sau cái yếm mỏng manh.
Chẳng ai nghe thấy bọn Bùi Lạc Thủy chửi nữa. Bấy giờ, phiên dịch mới xuất hiện. Lại cũng là nữ nhân ăn vận hờ hững, ngồi bên chấn song lắng nghe các tướng xứ Mường kể lể. Mỗi ngày một lần, các nữ phiên dịch đều nhắc rằng người Mường và người Kinh là anh em một nhà. Vì người Mường thật thà, nghe theo lời xúi giục của Điền Hoành, gian tế từ Vân Nam, mới có cảnh nồi da xáo thịt chứ Vạn Thắng Vương không hề muốn đánh với người Mường, chỉ muốn kết tình anh em. Rồi họ viện dẫn, Tôn Ninh Hà hành thích Vạn Thắng Vương, tự đến nộp mạng cũng chẳng bị giết, nếu là người Kinh hẳn đã bị tru di cửu tộc. Hay như Tôn Viết Văn bị thương vẫn được cứu chữa mà không mất mạng. Để làm tin, Tôn Ninh Hà còn được gặp mặt mấy ông tướng cùng lúc.
Cứ như vậy, lòng thù hận Vạn Thắng Vương của mấy tướng xứ Mường dần dần đổ hết lên người Điền Hoành. Các yếu nhân Thiên Đức đã dựa vào tính thật thà, dễ tin người của dân tộc Mường để dần dần khuất phục và đồng hóa họ. Bởi thế, các sắc dân miền thượng du nói rằng người Kinh lắm mưu mẹo, giảo hoạt quả không sai. Và để từng bước kết nối các sắc dân, ngoài việc cho dân cư trộn lẫn, khuyến khích kết hôn giữa các tộc… thì cụm từ "người Vạn Xuân" dần được dùng trong văn bản tuyên truyền, giao tiếp hàng ngày, kết hợp với truyền thuyết về chung nguồn cội.
Lại nói Trương Bồ sau khi phá vây chạy về hướng Bắc cùng tàn quân. Quân truy đuổi ráo riết quá, tướng sĩ liền chia nhau tháo chạy tán loạn. Trương Bồ chạy được bốn, năm dặm thì gặp một ngôi làng nhỏ. Dân binh trong làng phát hiện bọn Trương Bồ xộc vào làng liền hô hoán dân làng vây bắt. May mắn Trương Bồ cướp được hai con ngựa để tháo thân. Số tàn quân bị bắt mất mấy người, còn lại gần hai chục thuộc hạ lếch thếch chạy theo rồi rơi rụng dần.
Chạy chưa được bao xa, Trương Bồ đụng phải một toán lính của Trịnh Tú đang đi lùng sục. Bồ múa đại đao xông lên đánh. Toán lính của Trịnh Tú chỉ có mấy người nên liền quay đầu bỏ chạy. Trương Bồ không dám đuổi theo, lại nghĩ hướng Bắc có phục binh, bèn quay ngựa đổi sang hướng Đông chếch Bắc mà chạy dài. Trương Bồ đoán đúng, bởi chạy một quãng ngoái nhìn lại đã thấy quân của Trịnh Tú lố nhố phía chân trời. Trương Bồ ra roi, thúc ngựa chạy được chừng hơn ba dặm, trông sang bên trái thấy có toán quân lố nhố chạy trên cánh đồng liền giật mình gò cương. Nhìn kỹ hơn, nhận ra đó chính là bọn Bùi Sơn Lâm, Bồ mừng húm.
Bùi Sơn Lâm bị đuổi ráo riết, quân lính thưa dần, thở chẳng ra hơi. Gặp lại Trương Bồ, cả hai chẳng nói năng gì, chỉ ôm nhau mà khóc. Quân Thiên Đức từ phía Tây Nam và Tây Bắc đuổi đến, Bùi Sơn Lâm lên con ngựa còn lại tiếp tục cuộc trốn chạy. Toán truy binh thuộc quyền Trịnh Tú có hơn hai chục chiến mã, định cắt đường chặn đầu để bắt Lâm và Bồ. Gần trăm thuộc hạ của Bùi Sơn Lâm ra sức cản địa, nhờ thế hai tướng người Mường cùng hơn chục thân tín bỏ xa được vài dặm đường. Khi còn cách bờ sông chừng ba dặm, hai con ngựa đã đuối sức vì chúng chỉ là ngựa thồ, chẳng phải loại tốt, lại đã chạy lòng vòng đến mấy mươi dặm. Mặc cho Trương Bồ quất roi, con ngựa đi thêm vài bước thì ngã quỵ. Quân tướng đành bỏ ngựa, chạy trối chết về phía sông Hắc.
Thuộc hạ vội vàng chặt được hơn chục thân chuối, đốn cành cây xiên ngang gấp rút làm bè mảng. Bóng chiều buông dần, quân Trung đoàn 1 Sơn cước đuổi đến, phạt lau sậy ven sông để tìm bọn Sơn Lâm. Quân tướng xứ Mường chẳng kịp làm mái chèo, vội vã thả ba cái bè chuối xuống sông rồi nhảy lên, dùng tay và chính thanh đao thay cho mái chèo.
Bè chưa rời bờ bao xa thì binh sĩ Trung đoàn 3 Sơn cước đã tìm thấy. Một vài binh sĩ nhảy ùm xuống sông định bơi đuổi theo nhưng đúng lúc triều dâng, họ đành quay vào. Quân trên bờ giương cung định bắn vì bè chuối còn chưa xa khỏi tầm tên, nhưng viên chỉ huy vội ngăn lại.
- Bùi Sơn Lâm và Trương Bồ nghe cho rõ đây! Đại Vương có lệnh tha cho chúng bay một mạng. Về xứ Mường, nhớ đặt tay lên trán ngẫm cho kỹ vì sao lại ra cớ sự này. Còn muốn chống lại Đại Vương thì cứ luyện binh cho kỹ vào, Đại Vương chỉ tha một lần, lần sau có làm ma chớ oán trách!
Người vừa lớn giọng chính là Phan Kế An, Đại đội trưởng trong quân của Trịnh Tú. Dạo trước từng phục vụ trong quân Thiết kỵ của Lê Phụng Hiểu.
Một binh sĩ dịch lại lời của Phan Kế An. Bùi Sơn Lâm dừng chèo vài nhịp, ngoái nhìn lại bờ sông rồi cùng thuộc hạ ra sức khua nước. Tình cảnh thật bi đát làm sao.
Sang được bờ bên trái thì trời đã tối đen. Bùi Sơn Lâm đứng lặng người hồi lâu, dường như muốn nói điều gì nhưng lại nghẹn nơi cổ họng.
Mới hơn nửa tuần trăng trước còn hồ hởi qua sông, nay nhờ tướng địch tha chết cho về với vài ba tên lính rách rưới, khiến tâm can Ngọa Hổ tướng như mớ bòng bong.
- Thù Thiên Đức nhất định phải trả, nhưng trước tiên phải lôi cổ thằng đã xúi dại chúng ta sang sông. - Bùi Sơn Lâm uất hận, gằn giọng. - Cớ sự này do thằng mặt trắng họ Điền, nó đã xúi chúng ta chọc tổ ong vò vẽ.
Nói đoạn, Bùi Sơn Lâm quay lưng bỏ đi về hướng Đông Nam. Cả bọn thất thểu luồn rừng mấy ngày trời, về đến nhà lang chịu tội với quan lang nhưng cũng chỉ bị trách phạt mà thôi.
Điền Hoành không về, chẳng biết đã mất dạng ở nơi nào hay đã bị quân Thiên Đức túm mất rồi. Bùi Sơn Lâm kiếm cớ trút giận lên bọn Âu Minh Thông trong lúc các quan lang còn lo sốt vó vì quân Thiên Đức đã qua sông. Âu Minh Thông thấy lành ít dữ nhiều, sợ nếu còn ở đất Mường thì đêm đến Bùi Sơn Lâm sẽ kề đao vào cổ lấy thủ cấp, bèn bàn với Lạc Hi, Yên Định tìm đường trốn thoát.
Nhắc đến mưu sĩ Điền Hoành, sau khi chạy một mạch xuống chân núi, hắn mới hoàn hồn nhớ ra đống sổ sách hãy còn trong rương. Định quay trở lên lấy, nhưng lại nghe súng pháo đì đùng, chốc chốc bầu trời loé sáng một khoảng, sợ quân Thiên Đức đã theo ròng rọc mà sang sông. Ngộ nhỡ rơi vào tay họ Mạc thì mạng nhỏ khó giữ. Còn như về gặp quan lang, nay mai Thiên Đức đem sổ sách ghi chép sang trả thì hắn cũng lại mất đầu. Chỉ còn cách trốn luôn lúc này mới là thượng sách. Nghĩ vậy, Điền Hoành lỉnh vào bụi rậm chờ đến lúc mặt trời lên, xác định phương hướng rồi chuồn thẳng lên hướng Bắc tìm đường về Vân Nam.
Quả nhiên, Mạc Thiên Chương sai người chép lại những chỗ Điền Hoành nhận xét về xứ Mường, về thuộc hạ nhà quan trong đống sổ sách thu được, rồi đem giao cho Đinh Sơn. Đinh Sơn đọc xong vừa giận vừa thẹn, bèn mắng chửi om sòm. Bọn thuộc hạ lại nói đó là kế sách của Thiên Đức nhằm chia rẽ lòng dân. Nay Thiên Đức bắt giữ mấy trăm người, có cả bọn Bùi Lạc Thủy, thể nào mà chẳng khai thác được dăm ba điều cơ mật.
Đinh Sơn nghe vậy xuôi tai, lại chẳng muốn thừa nhận bản thân đã dùng sai người, sẽ mất mặt với các tướng sĩ nên hắn vứt đống sổ sách vào bếp lửa.
- Mạc Thiên Chương quỷ kế đa đoan, nó muốn ta nghi ngờ chính người của mình.
Lời này chẳng biết có phải là lời thật lòng của quan lang họ Đinh hay không. Dẫu sao Điền Hoành đã biệt tích, nào có ai đối chứng để tỏ rõ thực hư.
Bản chuyển ngữ này thuộc quyền sở hữu của truyen.free, nghiêm cấm sao chép dưới mọi hình thức.