(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 587: Xứ Mường Động
Đinh Sơn tổ chức lễ cúng hết sức trọng thể tại nhà lang để tưởng niệm những thổ binh đã hy sinh vì nghĩa lớn. Trong trang phục áo dài lụa chàm cài khuy bạc, quần dài trắng ống rộng, thắt lưng lụa quấn quanh cạp, đầu búi khăn dài với hai đầu khăn giắt sang hai bên, đích thân Đinh Sơn lần lượt thắp hương vái lạy từng linh cữu.
Khi lễ ma chay xong xuôi, Đinh Sơn cho gọi tả hữu đến nhà lang hội họp. Đinh Sơn vốn là người Mường, tằng tổ nhiều đời từng là thủ lĩnh hùng mạnh cai quản đất Mường Động. Thời trai trẻ, ông bôn ba khắp chốn, từng chiêu mộ mấy trăm thổ binh tụ nghĩa dưới cờ họ Lý để đuổi binh Hoa quốc. Tiên Vương Lý Nam Vương luận công ban thưởng, cho Đinh Sơn làm quan lang cai quản Mường Động, quyền thế truyền nối cho con cháu đời đời. Đinh Sơn trọng võ tướng, kính văn nhân, chẳng tiếc tiền bạc để chiêu hiền đãi sĩ, mời thầy dạy đủ thứ trên đời cho các con. Bởi vậy, dưới trướng ông có gần hai mươi mưu sĩ từ khắp bốn phương tụ họp.
Lang Cun, Lang Đạo và các mưu sĩ ngồi ở dãy bên tả nhà lang, còn võ tướng thì ngồi xếp bằng ở dãy bên hữu. Cách sắp xếp này cho thấy Đinh Sơn coi trọng văn nhân. Nổi bật trong số mưu sĩ có Điền Hoành, người Hán đến từ Vân Nam quốc; Âu Minh Thông, quê Sơn Vi, lộ Tam Giang; Lạc Hi ở phủ Vĩnh Yên; và Yên Định, một mưu sĩ người Mường, quê xứ Thanh Hoa.
Đinh Sơn bảo Bùi Tượng thuật lại đầu đuôi những điều mắt thấy tai nghe khi sang đất Sơn Lăng. Sau đó, Đinh Sơn hỏi ý các tả hữu xem nên làm gì tiếp theo, liệu có nên thuận theo các điều kiện Thiên Đức đưa ra hay không. Các tả hữu nhìn nhau, chưa ai dám mở lời.
"Bọn Thiên Đức ở Sơn Lăng chỉ đôi ba nghìn, chẳng phải binh bản địa. Dù có là quân sơn cước giỏi đạp rừng như đi trên đất bằng thì cũng không phải là đối thủ của chúng ta. Tiên hạ thủ vi cường, thừa lúc chúng đang lo đối phó với bọn Đỗ Thục, Lý Long Xưởng, ta vượt sông đánh sang chiếm lấy là hợp lẽ nhất đấy ạ."
Người vừa cất giọng oang oang như sấm rền ấy chính là Lang Nha tướng Bùi Lạc Thủy. Thủy cao to, sức địch muôn người, binh khí thường dùng là cây rìu lớn sắc bén, đốn cây như chém xuống nước. Tên Thủy (nước) là vậy, song vị Lang Nha tướng này lại có tính nóng như lửa, ưa chém giết, giải quyết xung đột bằng sức mạnh. Ông đeo vòng cổ gồm nhiều nanh chó sói đầu đàn, bởi thế mà có ngoại hiệu Lang Nha tướng.
Đinh Sơn rất tin dùng Bùi Lạc Thủy.
"Thuộc hạ đồng ý với Lang Nha tướng. Bọn Thiên Đức xảo quyệt, nếu ta khoanh tay ngồi chờ đến khi chúng đánh bại Lý Long Xưởng thì sẽ rất nguy hiểm. Mũi dùi khi ấy nhất định sẽ chĩa vào chúng ta, chẳng thể khác được."
Đinh Sơn hướng ánh nhìn về người ngồi kế bên Bùi Lạc Thủy, đó là Bùi Sơn Lâm. Bùi Sơn Lâm có khuôn mặt vuông chữ điền, cặp lông mày sâu róm, chòm râu đen nhánh tiệp màu với nước da bánh mật. Tên Sơn Lâm nghĩa là núi rừng, bởi thế mọi người đặt ngoại hiệu cho ông là Ngọa Hổ tướng (con hổ nằm). Bùi Sơn Lâm là anh con bác ruột của Bùi Lạc Thủy, nhưng vì Lâm ít hơn Thủy hai tuổi nên vẫn gọi Thủy là anh. Ở xứ Mường Động có lệ, ai nhìn thấy mặt trời trước thì được xem là anh.
Bùi Sơn Lâm là một mãnh tướng, sức như cọp beo, nhanh nhẹn như sóc. Ông có tính tình bộc trực, ăn nói chẳng kiêng dè ai và có cố tật là… thèm ngủ trong bờ bụi sau khi say rượu.
Đinh Sơn chợt để mắt đến người thứ ba ngồi ở dãy phải, cạnh Bùi Sơn Lâm. Người này có cặp lông mày xếch, hai mắt to, hơi lồi, khiến kẻ yếu bóng vía chẳng dám nhìn thẳng.
"Ấu Kỳ tướng quân, ý ngươi thế nào?"
Nghe Đinh Sơn hỏi tới, Ấu Kỳ tướng Bạch Gia Mô liền đáp:
"Thuộc hạ chờ lệnh quan lang."
Đinh Sơn gật gù, không hỏi thêm Ấu Kỳ tướng. Bạch Gia Mô vừa tròn 25 tuổi, lầm lì ít nói, chỉ biết tuân mệnh hành sự. Ngoại hiệu Ấu Kỳ có nghĩa là con kỳ lân nhỏ.
Đinh Sơn hỏi thêm ý kiến của Hắc Mã tướng Hà Duy (vị tướng cưỡi chiến mã lông đen), Song Tiên tướng Đinh Đệ (vị tướng dùng hai roi) và Phác Thiên Điêu tướng quân Trương Bồ (vị tướng được ví như đại bàng tung cánh vút trời). Cả ba đều nhất trí với ý kiến của Lang Nha tướng. Tiếp đó, Đinh Sơn hỏi đến Trấn Giang tướng Quách Cư Dĩ, người chỉ huy thủy quân Mường Động trên dòng Hắc Giang.
Quách Cư Dĩ bày tỏ:
"Ta chưa rõ binh lực Thiên Đức ở Sơn Lăng. Đại quân Thiên Đức lại tụ về ven dòng Hát, nếu họ cấp tốc kéo đến thì chẳng xa là bao, chỉ mất mấy canh giờ để tới nơi. Thuộc hạ nghĩ, trước khi đánh sang Sơn Lăng cần suy xét kỹ mọi lẽ thiệt hơn."
Quách Cư Dĩ không được bọn Lang Nha tướng, Ngọa Hổ tướng coi trọng bởi Dĩ chỉ nắm trong tay gần năm trăm thủy quân với vỏn vẹn trăm con thuyền nhỏ bé. Người Mường vốn quen rừng núi, nên thủy quân không được coi trọng. Trong mắt Bùi Lạc Thủy và Bùi Sơn Lâm, Quách Cư Dĩ cùng đám thuộc hạ hỗn tạp chẳng khác nào một gã ngư phủ lay lắt quăng chài lưới kiếm sống qua ngày trên dòng Hắc Giang. Quách Cư Dĩ biết điều ấy, chẳng muốn xích mích nên luôn giữ thái độ trung dung.
Đinh Sơn nhìn sang hàng bên tả, mong chờ trưởng tử Đinh Công, người đứng đầu Mường Chiềng, một xứ mường lớn, đông dân và giàu mạnh. Đinh Công tuổi vừa ba mươi, vóc người tầm thước, thâm trầm và đa nghi giống Đinh Sơn.
"Lang Cun có cao kiến nào khác hãy nói ra để cùng bàn luận."
Đinh Công nhường lời cho các mưu sĩ bởi ông chẳng ưa phường giá áo túi cơm chuyên hắt nước theo mưa, dùng ba tấc lưỡi kiếm miếng ăn để tiến thân. Đinh Sơn không bằng lòng, song vẫn hỏi các mưu sĩ nãy giờ đang ngồi xếp bằng, hai tay giấu trong ống tay áo.
Điền Hoành lim dim như kẻ ngủ gật, thấy Đinh Sơn hỏi tới liền đứng lên chỉnh vạt áo cho ngay ngắn, bước ra chắp tay cung kính, nói:
"Chủ ý của chư vị võ tướng vừa nghe thì có vẻ hợp lẽ, nhưng ngẫm kỹ lại thì là hạ sách đấy ạ."
Khóe miệng Đinh Công khẽ động đậy. Bên đối diện, Lang Nha tướng vừa nghe Điền Hoành có ý phản bác liền đứng bật dậy, xẵng giọng:
"Điền tiên sinh có cao kiến gì thì cứ nói thẳng thừng ra, cần gì phải úp mở. Tại hạ ít chữ, thích ăn ngay nói thẳng, chẳng thích vòng vo, ẩn ý."
Điền Hoành từ tốn thưa với Đinh Sơn:
"Thiên Đức binh hùng tướng mạnh, cùng lúc trải quân ra ba, bốn nơi. Nếu họ bình định được La Thành, Đỗ Động Giang, ắt sẽ chĩa mũi nhọn vào các xứ mường. Theo thiển ý của tại hạ, trước hãy tìm mọi cách giúp Đỗ Thục, sau đó tìm cách hòa hoãn với Thiên Đức. Mường Động tuy rộng, đồi núi tuy cao, rừng tuy rậm rạp, nhưng nếu Thiên Đức đánh chậm, tiến chậm, ắt sẽ dồn chúng ta vào nguy khốn."
Lang Nha tướng nói oang oang:
"Đằng nào chúng cũng sẽ đánh ta, vậy lúc này đánh chúng chẳng phải là hơn cả sao? Ý của Thủy đây sai chỗ nào mà tiên sinh lại bảo là hạ sách?"
Điền Hoành bấy giờ mới quay sang nói với Bùi Lạc Thủy:
"Tướng quân tấn công mà chưa rõ binh lực địch, phép dùng quân nên tránh điều đó.
Địch chủ động chờ đánh, lại thêm việc ta đánh trên đất địch thì nắm phần thất lợi. Muốn sang Sơn Lăng chỉ có cách qua Hắc Giang. Thủy quân ta yếu, nếu địch chặn đường lui, ắt trung quân sẽ rối loạn. Đó là chỗ yếu thứ ba. Tại hạ đánh giá cao uy dũng của tướng quân, nhưng Thiên Đức suốt chục năm trời nam chinh bắc chiến, phép dùng binh ắt có chỗ ảo diệu, binh sĩ quen chiến trận, thuộc phép tiến thoái. Hơn nữa, Bố Giáp vốn là Tả tướng Sơn Tây, chẳng phải kẻ hữu danh vô thực."
Lang Nha tướng nhíu mày, hai hàm răng nghiến chặt, gằn giọng cật vấn:
"Ý của tiên sinh bảo ta không phải đối thủ của Bố Giáp?"
Điền Hoành ôn tồn giải thích:
"Tướng quân có uy dũng, khí khái hơn vạn người. Bố Giáp thạo cầm ba quân, lại có thần khí của Thiên Đức. Tại hạ nghĩ mãi vẫn chẳng biết nên so sánh thế nào cho đúng vì hai người sở trường khác nhau."
Bùi Lạc Thủy nhếch miệng cười khinh mạn:
"Chưa bàn xong đánh như thế nào đã bàn lui, vậy cao kiến của Điền tiên sinh ra sao? Tọa sơn quan hổ đấu, tiếp tế lương thực và người cho Đỗ Thục chống Thiên Đức ư?"
"Ngoài mặt ta thuận theo yêu cầu của Thiên Đức để chúng thả người. Quan lang sai Đỗ Thục cấp y phục quân Đỗ, ta dùng y phục đó quấy phá Thiên Đức, tội vạ sẽ do nhà họ Đỗ gánh chịu, liên quan gì đến chúng ta?"
Ngọa Hổ tướng Bùi Sơn Lâm giấu nụ cười, hỏi Điền Hoành:
"Vẫn như lời tiên sinh nói, qua sông phải lụy đò, vậy thuyền bè tính sao đây? Dùng số thuyền rách nát của Quách tướng quân để qua sông ư? Ta e rằng chưa đến bờ thì binh sĩ đã ướt hết cả rồi."
Bọn Hà Duy, Đinh Đệ, Trương Bồ và một số bộ tướng hơi cúi đầu, cố nhịn cười. Quách Cư Dĩ vẫn điềm nhiên, làm như chẳng nghe thấy Ngọa Hổ tướng đang bóng gió.
"Muốn sang sông mà chẳng cần thuyền thì không phải là khó," Điền Hoành tự tin nói. "Có điều, làm cách ấy chẳng thể đem đại binh, nhiều lắm thì dăm trăm tráng sĩ mà thôi."
Đinh Sơn nghe được lời đó vô cùng tò mò, bèn bảo:
"Điền tiên sinh, phiền tiên sinh nói rõ hơn được không?"
"Thiên cơ bất khả lộ, tại hạ ăn bổng lộc của quan lang, nghĩ đã đến lúc phải đền đáp. Việc hệ trọng này tại hạ xin được thưa riêng với ngài."
Đinh Sơn vỗ đùi, vui mừng nói:
"Được, được! Mời tiên sinh lại gần đây ta cùng trao đổi."
Điền Hoành đến cạnh Đinh Sơn, ghé vào tai ông thì thào điều gì đó. Đinh Sơn liền gật đầu lia lịa, nét mặt mỗi lúc một rạng rỡ.
"Diệu kế, diệu kế! Thực là diệu kế. Điền tiên sinh quả không hổ danh mưu thần hạng nhất Vân Nam."
Điền Hoành chắp tay cung kính bái tạ:
"Tại hạ không dám nhận, chỉ là góp chút sức mọn mà thôi, xin quan lang chớ vội khen."
Điền Hoành trở về chỗ ngồi, Đinh Sơn nhắc tả hữu cùng uống chút rượu cần trước khi bàn bạc tiếp.
"Âu tiên sinh, Lạc tiên sinh, Yên tiên sinh!" Đinh Sơn hỏi những mưu sĩ còn lại. "Ý các ông thế nào? Xin cho Sơn này được tường tận."
Âu Minh Thông vuốt thẳng vạt áo, vòng tay thi lễ, cất giọng từ tốn:
"Theo tại hạ thấy, quan lang kết giao hòa hảo với Thiên Đức là kế dài lâu. Thiên Đức tuy khác giọng nói, phong tục với ta, nhưng Vạn Thắng vương Mạc Thiên Chương tuổi còn trẻ, lại có lòng thương dân."
Chẳng chờ Âu Minh Thông nói hết câu, Đinh Công đứng bật dậy, hướng cái nhìn hằn học về phía Âu Minh Thông:
"Cha ta là vua xứ mường, chẳng lẽ phải quỳ gối xưng thần với thằng oắt con họ Mạc kia sao?"
Âu Minh Thông vẫn khẳng khái đáp:
"Lý Tiên vương từng sắc phong Đinh quan lang làm vua xứ Mường Động. Mạc Thiên Chương kế tục ngai vàng, theo lý mà nói, phải vỗ về bách tính, lấy lòng muôn dân."
Âu Minh Thông thấy Đinh Sơn có vẻ chẳng hài lòng với lời vừa rồi đành xin bảo lưu ý kiến. Lạc Hi thấy tình hình căng thẳng sẽ không có lợi, bèn đứng lên thưa rằng:
"Ngoài xứ mường của ta còn hai xứ mường khác, quan lang nên kết giao với họ để tạo thế chân kiềng vững chắc. Giả như Thiên Đức có đắc lợi, vẫn phải dè chừng ta. Hơn nữa, ta kéo dài thêm thời gian xem xét thế sự rồi định liệu tiếp cũng chưa muộn đâu ạ. Chống Thiên Đức là việc phải làm, song… chưa phải lúc này đâu ạ."
Đinh Công nói mát mẻ:
"Xứ Tam Đái từ chủ đến tớ đều chỉ biết quỳ gối, Sứ quân nơi ấy là một ông trọc đầu ngày đêm ngồi sám hối mà chẳng hiểu sám hối cái gì nữa, nực cười."
Thấy Yên Định nhấp nhổm, Đinh Công bèn tiện miệng:
"Xứ Thanh Hoa còn tệ hơn, từ tướng đến quân đều đồng lòng quỳ gối. Bởi thế người trong thiên hạ mới bảo rằng, chơi với bọn Kinh lâu dần sẽ nhiễm tính gian trá, hèn hạ và bủn xỉn của chúng là vậy."
Yên Định và Lạc Hi tức lắm song chẳng thể nói được, lời nghẹn ứ ở cổ họng.
Đinh Sơn bảo tả hữu ngưng tranh cãi, rồi hỏi Quân lương tướng Bùi Nghiệp về lương thảo. Bùi Nghiệp báo cáo rành rẽ, Đinh Sơn hài lòng lắm.
"Xông pha trận mạc là việc của các tướng, kẻ sĩ ngồi sau bàn tre sao có thể nhìn xa trông rộng. Bao đời này thắng bại định trên sa trường, nào có múa mép khua môi mà thắng được địch," Bùi Nghiệp nói. "Mạt tướng sẵn sàng quân lương, đánh với Thiên Đức cả năm cũng chẳng hết."
Âu Minh Thông, Lạc Hi, Yên Định vốn đã ấm ức từ nãy đến giờ đang cố nhịn, nay lại nghe lời khích bác của Bùi Nghiệp thì tức anh ách. Lạc Hi bèn đổi giọng, trả đũa:
"Còn nhớ năm xưa lúc Lý Tiên vương mới lên ngôi, trong ngoài còn lộn xộn, chưa yên, đám sâu mọt cậy công thi nhau đục khoét. Có Trương Càn, kẻ tay hòm chìa khóa, táy máy đem của công về phủ. Đồ quý trong nhà Trương Càn còn nhiều hơn trong cung. Lý Tiên vương biết chuyện bèn gọi Càn đến hỏi. Càn nói giữ hộ vì sợ phường trộm cắp. Tiên vương xét thấy Trương Càn từng vào sinh ra tử, vả lại ngài mới lên ngôi, bêu đầu kẻ tắt mắt sợ trăm quan dị nghị nên mới tha bổng. Trương Càn được miễn tội nhưng năm sau bị hạ nhân cắt bỏ của quý vì chung chạ với vợ hắn, thật đáng thẹn."
Bùi Nghiệp biết Lạc Hi chỉ gà mắng chó, song lời nói quá đúng, khiến hắn không thể cãi lại, đành ngậm miệng. Số là Bùi Nghiệp từng đem thóc lúa trong kho quân lương cho vợ một thuộc hạ có nhan sắc, đương lúc tằng tịu bên đống rơm bị bắt quả tang. Nếu Bùi Nghiệp không phải con cháu quan lang thì có lẽ đã mất mạng trong tư thế khó coi rồi. Bùi Nghiệp phải chịu phạt vạ trâu, bò và mấy bồ thóc cho yên chuyện, nhưng dân xứ Mường Động ai ai cũng đều biết cả.
Những dòng văn này được truyen.free dụng tâm chuyển biên, mong bạn đọc thưởng thức và tôn trọng bản quyền.