Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 528: Trung đoàn Vĩnh Yên

Phan Vỹ yết kiến Vạn Thắng Vương tại thành Tam Đái, cam kết trung thành và sẵn lòng nhận mọi nhiệm vụ do Vạn Thắng Vương giao phó.

Chương quyết định trả lại Sứ tướng phủ khiến Phan Vỹ bất ngờ, đồng thời chuẩn y việc Phan Vũ, em trai Phan Vỹ, được từ làng Tam Đái về đây trông nom. Trừ số bạc vàng bị sung công, mọi đồ đạc khác trong phủ đều còn nguyên vẹn.

Chương ra quyết định thành lập Trung đoàn bộ binh Vĩnh Yên gồm 2000 quân, biên chế thành bốn tiểu đoàn. Quân sĩ trung đoàn tuyển mộ từ những người dân Tam Đái từng phục vụ Phan Văn Hầu, tuổi không quá 25. Phan Vỹ, cấp bậc Trung úy, được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng. Đại úy Triệu Văn Khoát giữ chức Chính ủy, còn Thiếu úy Lưu Cơ làm Trung đoàn phó. Bốn Đại đội trưởng từ các tiểu đoàn Long Ngô Động, Thiên Đức, Tam Vạn, Kim Động cũng được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn phó trong Trung đoàn Vĩnh Yên. Vị trí Tiểu đoàn trưởng sẽ do người Tam Đái đảm nhiệm. Các cấp phó có nhiệm vụ hỗ trợ cấp trưởng nhanh chóng làm quen với quân kỷ Thiên Đức, đồng thời phụ trách việc liên lạc, giấy tờ. Bốn tiểu đoàn bộ binh được đánh số từ 1 đến 4, riêng chức Chính trị viên sẽ tạm thời do các nữ quân nhân Thần Vũ đảm nhiệm. Ban Tham mưu của trung đoàn và các tiểu đoàn sẽ do chính các chỉ huy lựa chọn. Để hỗ trợ ban chỉ huy trung đoàn và tiểu đoàn, mười nữ quân nhân được tuyển chọn từ các tiểu đoàn Thần Vũ quân sẽ đảm nhiệm bộ phận văn phòng. Như vậy, tổng cộng có 51 cô gái Thần Vũ phục vụ trong Trung đoàn Vĩnh Yên, tất cả đều là người chưa chồng.

Một Trung đội liên lạc gồm 36 binh sĩ Thiên Đức sẽ được phân bổ từ cấp trung đoàn xuống các đại đội để đảm trách công tác liên lạc.

Tướng sĩ Vĩnh Yên phải mất nhiều tuần học tập để làm quen với cách sắp xếp mới trong quân đội. Trung đoàn bộ binh Vĩnh Yên là quân đội địa phương, lấy ngày 5 tháng 9 làm ngày thành lập. Sau khi thành lập, trung đoàn bộ đóng bản doanh tại gò Đồng Dậu, huyện Yên Lạc, gần sông Phan, cùng với Tiểu đoàn 1. Các tiểu đoàn 2, 3, 4 thì đóng quân tại huyện Yên Lãng, Yên Phúc và Yên Dương. Trung đoàn có hai nhiệm vụ chính: huấn luyện và tiễu trừ giặc cướp tại địa phương. Dự kiến sau sáu tháng, một tiểu đoàn sẽ được tách ra, biên chế sang lực lượng công an.

Lê Phụng Hiểu, chỉ huy quân Thiết kỵ Vũ Ninh, được giao trọng trách thống lĩnh quân sự tại phủ Vĩnh Yên. Bản doanh của ông đóng tại thành Tam Đái, với nhiệm vụ tiếp tục chiêu binh mãi mã, xây dựng Sư đoàn Thiết kỵ Vũ Ninh.

Phạm Chiêm dẫn quân Long Vũ đến đóng ở Kẻ Đối, đúng nơi Trịnh Tú từng đóng quân trước đây. Trong khi đó, Cao Mộc Viễn đóng quân tại ngã ba Hạc, hạ lưu sông Bình Nguyên, cách vị trí Phạm Chiêm chỉ vài chục dặm.

Do Trung đoàn Sơn Cước số 1 và số 3 tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, Chương bổ nhiệm Nguyễn Lạc Thổ làm Tư lệnh chiến dịch chinh phạt Phong Châu mục Ngô Tất Sắc. Nguyễn Lạc Thổ cùng bộ chỉ huy di chuyển từ thành Tam Đái đến nơi Trịnh Tú đóng quân với nhiệm vụ giải quyết Ngô Tất Sắc trước Tết Nguyên Đán và thu phục các sắc dân ở đất Sơn Vi. Tổng cộng, Nguyễn Lạc Thổ có trong tay sáu ngàn quân thủy bộ tinh nhuệ. Trong trường hợp cần thiết, Nguyễn Lạc Thổ có thể huy động thêm quân Thiết kỵ Vũ Ninh, quân Vĩnh Yên cùng Sư đoàn Sơn Tây của Phùng Hiền. Khi Phùng Hiền đề đạt ý kiến, Chương thấy hợp lý liền bổ nhiệm ông làm Phó Tư lệnh chiến dịch, nâng tổng số quân dự kiến tham chiến lên gần một vạn.

Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định rằng để giành chiến thắng tuyệt đối trước Ngô Tất Sắc và giảm thiểu thiệt hại ở vùng đồi núi hiểm trở, cần phải đảm bảo hai yếu tố. Thứ nhất, cần chuẩn bị tốt công tác hậu cần như lương thực, thuốc men, quần áo ấm, nhằm đảm bảo binh sĩ có thể chiến đấu trong thời gian dài mà không lo đói rét. Thứ hai, phải làm tốt công tác trinh sát địa bàn, không để Ngô Tất Sắc chạy thoát về mạn Đà Bắc ở phía Tây.

Trung tuần tháng 9, Nguyễn Lạc Thổ gửi thư chiêu hàng Ngô Tất Sắc nhưng Ngô Tất Sắc giết sứ giả. Đó là lời tuyên chiến, vì vậy, không còn bất cứ lời chiêu hàng nào được đưa ra sau đó.

Tại cuộc họp của các chỉ huy, Trịnh Tú nêu ý kiến rằng đằng nào sau khi dẹp yên Ngô Tất Sắc, Vạn Thắng Vương cũng sẽ cho xây dựng đường sá, cầu cống, chi bằng cứ để ba quân vừa làm đường vừa tiến quân, chậm mà chắc, lại tránh được phục binh. Nguyễn Lạc Thổ và Phùng Hiền đều tán đồng ý kiến này. Nguyễn Lạc Thổ bèn mời các cụ cao niên thông thuộc đường đi lối lại trong vùng cùng giới thương nhân đến, hỏi cặn kẽ mọi chuyện, đồng thời bày tỏ ý định làm đường, khơi thông mương máng, dựng dịch trạm, bến đò.

Dẹp Phong Châu mục ở đất Sơn Vi, quân Thiên Đức ngược theo Xích Giang là phương án thuận lợi nhất. Ngô Tất Sắc bèn sai quân đắp đất xây thành ở vùng Hoa Khê bên bờ hữu ngạn Xích Giang, một vùng núi non hiểm trở, gọi là thành Hoa Khê. Thành Hoa Khê cách làng Kẻ Đối, ngã ba sông Hắc - Xích (nơi thủy quân Long Vũ đang đóng quân), khoảng 80 dặm về phía Đông Bắc.

Nguyễn Lạc Thổ dự liệu rằng một khi quân Thiên Đức đánh ngược dòng theo đường sông, Ngô Tất Sắc không thể địch lại sẽ lui vào vùng núi hiểm trở, rậm rạp để tổ chức đánh du kích, gây nhiều khó khăn cho đại quân Thiên Đức. Bởi vậy, ngoài đường thủy, theo ý kiến Trịnh Tú, quân Thiên Đức sẽ mở một con đường từ khu vực ngã ba sông tới mặt Đông vùng Hoa Khê. Việc này tuy gặp nhiều khó khăn nhưng xét về lâu dài sẽ mang lại vô vàn lợi ích cả về kinh tế lẫn quân sự. Hiện tại, đường bộ từ Hoa Khê về khu vực ngã ba sông chỉ là đường mòn, ngựa và người đi bộ thì dễ dàng, nhưng xe ngựa kéo lại khó đi do đường gồ ghề và nhiều đoạn lầy lội mỗi khi trời mưa lớn.

Bộ chỉ huy chiến dịch cũng xác định rằng một khi chiếm được thành Hoa Khê, một lực lượng quân đội Thiên Đức sẽ đồn trú lâu dài và không thể chỉ dựa vào đường thủy để tiếp tế. Chương đã nói với Nguyễn Lạc Thổ, vùng rừng núi cao phía Bắc là phên giậu, đánh thắng thì dễ, nhưng để bách tính nơi đó chịu theo mới là điều khó. B���i vậy, cốt lõi để dân chúng Sơn Vi quy thuận, như Chương nhận định, vẫn là cuộc sống cơm no áo ấm.

Tuy nhiên, để đến thành Hoa Khê, trở ngại trước mắt đối với Nguyễn Lạc Thổ là khuất phục dòng họ Kiều thế gia mấy đời vùng Tam Thành rộng lớn, cách Kẻ Đối chỉ một con sông.

Đứng đầu dòng họ Kiều hiện tại là Kiều Liêm, trưởng tử của Kiều Hãn. Kiều Hãn tuổi cao sức yếu, năm xưa đã góp công lớn đuổi giặc Hoa. Lý Nam Vương luận công ban thưởng, giao đất Mật cho họ Kiều, đến nay đã hơn ba mươi năm. Tiếp nối người cha, Kiều Liêm mở mang thế lực bằng cách liên hôn với các tù trưởng, tộc trưởng trong vùng. Vào thời Vạn Xuân chia năm sẻ bảy, Kiều Liêm đã nhân cơ hội này chiêu binh mãi mã, tạo dựng thế lực, dựng liền ba tòa thành gồm: thành Mè bên bờ hữu ngạn Xích Giang, thành Mật và thành Cao (cũng nằm bên bờ hữu ngạn), tạo thành thế chân kiềng kiểm soát toàn bộ Xích Giang. Trong ba tòa thành, thành Cao là lớn nhất, có hình vuông, mỗi chiều dài một dặm.

Kiều Liêm đã gần hai mươi năm trấn giữ một cõi, có trong tay khoảng sáu ngàn binh sĩ luân phiên vừa cày cấy, vừa giữ đất. Kiều Liêm tính tình cương trực, rèn quân rất nghiêm, người dân trong vùng thường gọi quân nhà họ Kiều là Cương Nghị quân.

Trước đây Kiều Liêm thần phục Sơn Tây Vương, hằng năm vẫn cống nạp đầy đủ, tuyệt nhiên chưa từng có xích mích đáng kể nào.

Ngô Tất Sắc trước đây trấn thủ phía Bắc đất Sơn Tây và là em rể của Kiều Liêm, nhờ vậy, Ngô Tất Sắc có một chỗ dựa vững chắc. Kiều Liêm lại chủ trương không đối đầu với các sứ quân.

Nguyễn Lạc Thổ đề nghị Kiều Liêm quy thuận Thiên Đức, Kiều Liêm phúc đáp rằng cần thêm thời gian suy tính. Khi Nguyễn Lạc Thổ đổi ý muốn mượn đường để đánh Ngô Tất Sắc, Kiều Liêm lại lập tức đồng ý! Thế nhưng thực lòng Nguyễn Lạc Thổ lại chẳng đồng tình. Lẽ đơn giản là nếu quân Thiên Đức tiến đánh Ngô Tất Sắc mà Kiều Liêm trở mặt chặn hậu, hai mặt giáp công sẽ khiến Nguyễn Lạc Thổ rơi vào thế lưỡng đầu thọ địch.

Thương lượng mãi không thành, tất phải động binh thôi! Tuy nhiên, việc tấn công lên vùng thượng du là điều không thể tiến hành trong ngày một ngày hai.

Nhắc đến Chương, sau khi sắp đặt mọi việc ở phủ Vĩnh Yên, anh quyết định trở về Vạn Xuân vì đã xa nhà ngót nửa năm trời. Anh cần trở về Vạn Xuân để bàn tính một số công việc với những lão tướng như Phạm Tu, Lý An, Triệu Quang Phục, Đoàn Thượng và cả ông Thái sư già.

Duệ gửi thư báo cho Chương biết rằng nhờ Lý Thái sư tận tình chỉ bảo, nàng đã biết thêm nhiều điều hay trong việc cai quản chính phủ. Tuy nhiên, một vài chuyện hệ trọng vẫn phải do Chương đích thân quyết định, chẳng ai dám tự ý định liệu. Nhất là khi vùng Thiên Đức kiểm soát ngày càng rộng lớn hơn, với nhiều sắc dân, đường sá xa xôi, thì việc phiên chế cụ thể cho quân đội Sơn Tây, Vĩnh Yên... cần được xem xét kỹ.

Chương liền cho triệu tập Lý Nhân Nghĩa, Phùng Hiền, Phạm Cự Lượng, Bàn Phù Sếnh, Lý Văn Ba, Lê Phụng Hiểu về Thiên Đức để họp bàn vào hạ tuần tháng 9. Riêng Nguyễn Lạc Thổ đang bận việc quân không thể tham gia cuộc họp yếu nhân này.

Chương sai người giả trang đi trước về Thiên Đức b��ng đường bộ, còn bản thân anh cùng Lam Khuê, Nhã Lâm, Nguyễn Địa Lô, Vi Thọ Kỳ xuất phát sau nửa ngày. Dù dăm ba lần gặp nguy khốn, Chương vẫn không từ bỏ ý định cưỡi ngựa thong dong trên vùng đất thuộc quyền cai quản của mình. Điểm khác biệt duy nhất là lộ trình được giữ tuyệt mật, và binh mã đóng dọc đường anh đi sẽ có mặt khi cần triệu tập mà không quá một canh giờ. Chương thực sự muốn tai nghe mắt thấy mọi chuyện, để xem những gì mình đã làm liệu có thực sự hợp với mong mỏi của bách tính hay không.

Trời sẩm tối, Chương dừng chân nghỉ lại trong một ngôi làng nhỏ tựa lưng vào rừng quế, ven dòng sông êm đềm. Làng Quế có hơn sáu trăm nhân khẩu, nằm cách trại Cỏ Lác hơn hai mươi dặm về phía Tây Bắc. Nghề chính của làng vẫn là nông nghiệp. Dù rừng quế bạt ngàn do dân làng trồng từ đời này qua đời khác, nhưng cuộc sống của họ vẫn không sung túc, có lẽ vì vấn đề đầu ra của sản phẩm. Chương không am hiểu về cây quế, nhưng trong đoàn có Quan Lam Giang, cô nàng đã kể cho Chương nghe về tác dụng của cây quế trong các bài thuốc.

Chương quyết định tự mình trở thành một thương nhân, tìm mua quế làm thuốc chữa bệnh.

Làng Quế có chừng hai trăm nóc nhà nằm san sát, lẩn khuất sau những tán cây rừng hoặc bụi tre. Như bao ngôi làng khác trong vùng, đàn ông lại chiếm thiểu số. Thiên Đức kiểm soát vùng này chưa được bao lâu. Cách cổng làng Quế hơn một dặm, gần bến sông có mấy điếm canh của quân Thiên Đức do một trung đội đóng giữ. Khi Nhã Lâm đến, chỉ huy trung đội giật mình làm rơi tờ giấy, còn Nhã Lâm cũng thoáng đổi sắc mặt.

- Thị vệ trưởng! Sao… sao cô lại ở đây ạ?

Nhã Lâm nhướng mày, nói:

- Anh đừng hỏi nhiều nữa.

Người Trung đội trưởng lắp bắp:

- Đại Vương đã… đã đến trại Cỏ Lác rồi ạ.

Triệu Nhã Lâm nghiêm mặt:

- Anh cứ làm đúng chức phận của mình đi!

Trung đội trưởng gọi binh sĩ đem dấu mộc tròn đến đóng lên tờ giấy. Dấu mộc chứng tỏ đơn vị này trực thuộc trại Cỏ Lác. Vị Trung đội trưởng trẻ tuổi này vốn là người làng Nhị Vạn, trước đây từng làm cận vệ của Phạm Tu nên đã vài lần chạm mặt Nhã Lâm khi đến làng Vạn Xuân.

- Cô Lâm, cô ở đây, chẳng lẽ… chẳng lẽ Đại Vương đang ở trong làng Quế ư?

Nhã Lâm lừ mắt:

- Anh đừng hỏi như thế. Chúng ta mỗi người một nhiệm vụ, chẳng cần nói anh cũng biết phải làm gì đúng không? Đừng có đánh động, nếu Đại Vương trách tội, tôi nào gánh hết được!

- Cô Lâm yên tâm, vùng này không có giặc cướp. Tôi sẽ lệnh cho anh em đề cao cảnh giác, tuyệt đối không làm phiền đến Đại Vương.

Nhã Lâm khẽ gật đầu, nàng hạ giọng nói thêm:

- Đại Vương là Triệu Bình, đến làng Quế tìm mua quế, xin anh nhớ kỹ điều này. Đừng để lộ sơ hở, kẻo chúng ta mang vạ lớn.

Nhã Lâm đem chuyện này kể lại với Chương. Chương liền bảo Lam Khuê lấy trong tay nải mấy tấm lụa, vài cân gạo nếp, đỗ xanh cùng một đĩnh bạc đưa cho Nhã Lâm và dặn dò:

- Em mua thêm một con gà trong làng tặng các cậu ấy để đánh chén một bữa. Đây không phải là của đút lót.

Nhã Lâm mang những thứ ấy đến điếm canh theo lời dặn của Chương, nói thêm dăm ba câu rồi trở về làng Quế.

Người Trung đội trưởng theo Nhã Lâm vào làng, nói với ông cụ trưởng làng. Nhờ vậy, đoàn của Chương được sắp xếp ở tại nhà một người phụ nữ góa chồng và hai con nhỏ. Ông trưởng làng hẹn Chương chiều hôm sau sẽ gặp dân làng tại chùa để bàn việc thu mua quế. Vi Thọ Kỳ và hơn chục người khác thì chia thành nhóm ba người, tá túc quanh xóm nhỏ, bắc bếp thổi cơm.

Bữa tối của Chương được bày trên mâm gỗ, ngoài các món gà luộc, canh rau muống, lạc rang, cà pháo còn có thêm món dưa muối do chủ nhà mời. Chương mời hai đứa trẻ, một trai một gái, mặt mày lấm lem, ngồi cùng mâm. Mẹ của chúng ban đầu không cho, Lam Khuê phải nói vài lời thuyết phục. Gia cảnh ba mẹ con rất nghèo, chẳng biết đã bao lâu rồi chúng chưa được ăn một bữa cơm tử tế. Chương gắp cho mỗi đứa một chiếc đùi gà. Chúng nhìn mẹ, người đàn bà ái ngại gật đầu. Chương giấu tiếng thở dài, anh vừa ngồi ăn vừa mỉm cười, liên tục gắp thịt cho hai đứa trẻ. Loáng một cái, chúng đã đánh bay cả đĩa thịt.

Chương hỏi chuyện người đàn bà tuổi chưa đến ba mươi:

- Anh nhà mình mất đã bao lâu rồi hả chị?

Người đàn bà đáp:

- Bẩm đại nhân, chồng tôi đã mất được mấy năm nay rồi ạ.

- Anh nhà còn trẻ như vậy mà…

Chương bỏ lửng câu nói, người đàn bà vẻ mặt khắc khổ liền tiếp lời anh:

- Chồng tôi và nhiều người trong làng vốn là lính, bặt vô âm tín, nghe đâu thiệt mạng ở sông Thiên Đức khi giao tranh với quân Thiên Đức.

Chương thoáng đổi nét mặt, đoạn anh hỏi thêm:

- Vậy anh nhà và người làng ta từng ở trong quân Tam Đái?

- Thưa vâng ạ!

Chương cố nuốt miếng cơm nghẹn đắng nơi cổ họng, rồi ngoảnh nhìn ra ngoài khoảng sân tối tăm. Lam Khuê và Nhã Lâm biết ý, bèn đổi sang chủ đề làng mạc, cấy cày. Ăn xong bữa cơm, Chương ngồi bên thềm nhà tối om, lặng lẽ nhìn ra cổng, lòng đầy suy tư. Thỉnh thoảng, anh lại ngoảnh nhìn hai đứa trẻ đang cười nói bên bậc cửa mà lòng nặng trĩu. Chẳng riêng gia đình này, mà còn vài gia đình khác trong làng cũng ba thế hệ đều vắng bóng đàn ông.

Bản văn này, sau khi trau chuốt, thuộc về truyen.free, mong độc giả trân trọng nguồn gốc.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free