(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 50: Cố nhân
Khoảng mươi ngày sau, tin tức từ những người Lý Đạo Thành phái đi thu thập bắt đầu được báo về. Đội thám thính khu vực bờ Bắc sông Thiên Đức cho biết không có gì bất thường: Vũ Ninh vương vẫn kê cao gối trong thành Bát Vạn, còn các trại nhỏ đóng rải rác trong vùng do ông ta kiểm soát cũng không hề có bất kỳ động thái đáng chú ý nào.
Tuy nhiên, từ bờ Nam sông Thiên Đức đến vùng giáp ranh với Tế Giang, người của Lý Đạo Thành lại thu thập được nhiều thông tin đáng chú ý từ dân chúng trong vùng.
Cuối tháng trước, gia trang của đại hào phú họ Nguyễn ở làng Nguyệt Đức ven bờ sông Dâu xảy ra biến cố. Lợi dụng đêm mưa gió, một toán cướp đông hàng trăm tên đã đột nhập, cướp bóc gần như sạch sẽ tài sản, đặc biệt là trâu bò, ngựa. Thời buổi loạn lạc, giặc cướp nổi lên không phải chuyện hiếm lạ, đôi khi còn xảy ra giữa thanh thiên bạch nhật. Thế nhưng, điều khiến Lý Đạo Thành phải hồ nghi là toán cướp tự xưng Hỏa Cẩu (hay Chó Lửa) lại hành động vô cùng khác lạ.
Theo thông tin thu thập được, bọn Hỏa Cẩu này không hạ sát bất kỳ ai trong gia trang. Sau khi hành sự xong, chúng rút đi êm thấm cùng hơn chục tỳ nữ. Dù sao thì việc cướp của, rồi cướp sắc cũng chẳng có gì lạ, nên điều này vẫn chưa phải là điều bất thường.
Cả một kho vải vóc, nhung lụa bị cướp gần như sạch sẽ chỉ trong vòng chưa đầy một canh giờ. Phải biết rằng để thực hiện được điều ấy, hàng trăm gia nhân trong gia trang cũng phải mất ít nhất một buổi chiều. Điều đó cho thấy bọn cướp này đông đảo, hành động có quy củ, có sự chỉ huy thống nhất và ra tay mau lẹ. Đó là điều hiếm thấy ở một nhóm những kẻ ô hợp tụ tập làm điều xằng bậy. Chúng cướp thuyền và dùng số thuyền đó để chở vải đi. Trên cánh đồng, chỉ còn vương vãi một ít vải vóc cùng hai chiếc thuyền bị lật úp ven bờ sông. Lý Đạo Thành cho rằng đây là điểm lạ, không lẽ nào đám cướp lại vội vã đến mức đánh rơi chiến lợi phẩm, trong khi chúng hành động chặt chẽ, không hề tỏ ra vội vàng. Tất cả các dấu vết để lại đã bị cơn mưa kéo dài suốt đêm xóa sạch, ngay cả dấu chân trâu hay ngựa cũng không tìm thấy. Dân trong vùng cho rằng toán cướp đã dùng thuyền lớn chở số trâu ngựa này đi. Lý Đạo Thành cũng cho là hợp lý.
Điều khác lạ mà Lý Đạo Thành quan tâm hơn cả là kẻ cầm đầu dường như là một tráng niên cao lớn, trạc ngoài hai mươi, cùng một cô gái. Hẳn họ là một cặp. Theo mô tả của các bảo tiêu trong gia trang, kẻ cầm đầu có dáng vẻ nho nhã, ăn nói nhẹ nhàng. Một chi tiết ít ai để tâm, đó là kẻ cầm đầu luôn có một đội binh nhỏ theo sau, có hàng lối quy củ, không hề bát nháo. Bọn cướp không sát hại người, cũng không đập phá hay đốt bất cứ thứ gì. Từ những tiểu tiết này, Lý Đạo Thành nhận định rằng đám cướp này có phần giống quan binh, và kẻ cầm đầu hẳn là một công tử.
Có khi nào chính Lý Lệnh công cho người của mình làm vậy để thu thêm tiền cống nạp? Khả năng này rất lớn. Bằng chứng là ngay sau đó, các hào phú trong vùng đều chi đậm hơn để được che chở. Còn việc đám cướp tự nói đến từ Tế Giang chỉ nhằm đánh lạc hướng, đổ vấy cho kẻ khác, hòng che giấu hành tung.
Kẻ cầm đầu là một nho sinh. Hắn ta đã tặng một bài thơ rất dài cho gia chủ, bài thơ nói về chí làm trai với bốn câu đầu như sau:
“Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc, Nợ tang bồng vay trả trả vay. Chí làm trai nam bắc đông tây, Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.”
Phần sau của bài thơ không ai rõ, nhưng chỉ với bốn câu mở đầu này đã cho thấy toán cướp không đơn thuần là những kẻ cướp bóc.
– “Chúng tích lũy của cải, gây rối Lý Lệnh công.”
Lý Đạo Thành nhận định. Ông hỏi đến Triệu Quang Phục thì được biết y đang tích cực gia tăng thanh thế bằng cách tuyển binh, miễn giảm thuế khóa và cho dựng thêm một làng mới. Binh mã của Triệu Quang Phục ước tính có hơn một nghìn người, với khoảng hai trăm ngựa tốt. Tin này không lạ, song nghe nói ngoài Triệu Quang Phục còn có một kẻ xưng là Phạm lão gia rất ít khi xuất hiện. Kẻ họ Phạm này là ai? Có thể đó là một nhân sĩ trong vùng mới về làm mưu sĩ cho họ Triệu.
– Bẩm Thái sư, còn một tin nữa nhưng tiểu nhân không dám chắc có nên bẩm báo hay không, vì có phần hoang đường.
– Ngươi cứ nói.
– Dạ bẩm, cách đây non nửa tháng, ở vùng giáp Thiên Đức mới xuất hiện một đội quân. Đội quân này nghe nói đã tổ chức thi đấu để tuyển thêm binh mã.
– Hử? Giáp Thiên Đức? – Lý Đạo Thành đưa tay bóp trán. – Nó ở đâu?
– Thưa Thái sư, giáp này nằm ven sông Thiên Đức, ở bờ Nam, hiện thuộc kiểm soát của Triệu Quang Phục.
– Ồ! Lại thêm một đám loạn quân nữa ư? Chúng tự xưng hay thuộc về tên họ Triệu đó?
– Dạ bẩm, đội quân này áng chừng chỉ vỏn vẹn hai trăm người, không có ngựa, trang bị sơ sài. Người trong quân tuyển từ vùng giáp Thiên Đức, tuyển cả đàn bà và trẻ nhỏ.
Lý Đạo Thành bật cười:
– Lại thêm một tiểu sứ quân cát cứ ư? Chúng tuyển đàn bà, trẻ nhỏ đánh trận? Nực cười. Kẻ cầm đầu tên gì?
– Dạ bẩm, là một tiên sinh họ Mạc.
Lý Đạo Thành khẽ lắc đầu: – Một lão già họ Mạc nào đó không chịu an phận vui thú điền viên lại nổi loạn ư? Loạn hết cả. Vậy ra đây là chuyện hoang đường mà ngươi nói ư?
– Bẩm Thái sư, dân chúng vùng giáp Thiên Đức và các làng lân cận kháo nhau rằng binh sĩ của đội quân này không giống như một đội quân thông thường. Chúng xưng là Đại đội Thiên Đức, gần đây người ta thấy đội quân này, người nào người nấy gù lưng tải sọt đựng đá nhằm hướng núi Linh Sơn mà đi, ngày nào cũng vậy.
– Hả? Ngươi có nhầm lẫn không? Quân binh không tập luyện mà lại gùi đá vào núi làm gì chứ? Chẳng lẽ chúng xây thành trong núi?
– Tiểu nhân cũng ngh�� như vậy.
– Chắc là sợ bị tên họ Triệu đến làm cỏ nên chúng mới xây thành trong núi. Đấy cũng đâu phải chuyện gì quá hoang đường?
– Bẩm Thái sư! Tiểu nhân nghe nói ban ngày ban mặt, khi đội quân này làm lễ thượng kỳ hay tế kỳ nào đó, đang lúc làm lễ thì trời kéo mây đen, giông tố nổi lên, sấm rền vang tứ phía nghe kinh hãi như tiếng hổ gầm.
Lý Đạo Thành đứng bật dậy: – Cái gì? Có chuyện đó thật sao? Xảy ra từ bao giờ?
– Gần nửa tháng trước thưa Thái sư.
Lý Đạo Thành đăm chiêu, đi đi lại lại một hồi lâu, sau mới nói:
– Ngươi phái thêm người dò la thật kỹ vùng bờ Nam sông Thiên Đức. Ta muốn biết Mạc tiên sinh ấy là ai, chúng có liên hệ gì với Triệu Quang Phục và có đúng chúng đang xây thành quách trên núi hay không.
Nửa tháng sau, Lý Đạo Thành nhận được một tin khiến ông thất kinh, mất ăn mất ngủ mấy đêm liền. Kẻ dưới cho hay, Phạm lão gia mới xuất hiện gần đây không ai khác chính là một cố nhân, một đồng liêu của ông: Tả Đô đốc Phạm Tu!
Lý Đạo Thành không lạ gì Phạm Tu, bởi trước đây ông ta từng giữ trị an kinh đô, liêm chính công minh nên kẻ sợ cũng nhiều mà kẻ thù cũng lắm. Khi Lý Nam Vương thành nghiệp lớn, ông ta là người có công đầu. Trong những trận giao chiến với Hoa quốc, Phạm Tu luôn là tướng tiên phong, dẫn quân xung kích đánh thọc sâu. Dưới trướng Phạm Tu thời ấy có nhiều chiến tướng, trong đó có cả Triệu Quang Phục. Tại sao ông lại không nghĩ đến điều này chứ? Tên họ Triệu không thể có đủ tài lực và uy tín để dấy binh được. Ngay cả Lê Phụng Hiểu, nay dưới trướng Long Xưởng, năm xưa cũng một tay Phạm Tu dìu dắt.
Phạm Tu có người em gái là Phạm Quý phi, người từng được tiên vương vô cùng sủng ái. Bà hạ sinh một công chúa, nhưng hơn mười năm trước công chúa đã bị kẻ gian bắt mất nên bà sinh bệnh. Ngày Phạm Quý phi bị đuổi khỏi cung, chính Lý Đạo Thành đã đến tiễn biệt và dặn rằng sau này nếu có khó khăn, hãy đến tìm ông. Trong số các phi tần của tiên vương, Phạm Quý phi không tranh giành, có lẽ bà biết thân biết phận khi chỉ hạ sinh công chúa. Một thời gian sau, Phạm Tu nhượng thái ấp, từ quan cáo lão về quê. Tiên vương không muốn, song nhiều đại thần vốn có hiềm khích đã tiện tay bỏ đá xuống giếng. Hoàng hậu khi ấy cũng không ưa Phạm Tu, nên ra sức thuyết phục tiên vương phê chuẩn.
Lý Đạo Thành tiếc nuối khi triều đình mất đi một bậc trung thần. Ông từng đến gặp Phạm Tu ở thái ấp, cùng đàm đạo thế sự. Ngày ấy, Lý Đạo Thành đã cảm thấy đôi chút lạ khi Phạm Tu không hề buồn bã mà ngược lại, vô cùng vui vẻ, lạc quan về thời cuộc. Vẫn còn nhớ, Phạm Tu đã nói trước khi Lý Đạo Thành ra về:
– Thái sư, ngài là rường cột nước nhà, rồi đây, dù chân kiềng có gãy, ngài cũng có chốn nương thân. Ta thân cô thế cô, ở lại chỉ sợ liên lụy bao người. Nay ta cáo lão, nhưng tâm tình vẫn gửi lại nơi đây. Nếu ông trời cho ta thọ thêm thì hẹn Thái sư mười lăm năm nữa cùng uống trà đàm đạo thế sự trong Điện Thái Hòa. Thái sư có lòng với nước, ta cũng vậy. Nhưng nay vì đại sự mà phải ra đi trong tủi nhục, ta cũng không bận lòng.
Lý Đạo Thành khi ấy chỉ nghĩ Phạm Tu còn vọng tưởng, luyến tiếc. Nhưng giờ đây, sau cả chục năm bặt vô âm tín, Phạm Tu đã xuất hiện. Như vậy, Thiên Gia Bảo Hựu quân hẳn là do ông ta dựng lên. Bây giờ binh sĩ chỉ có một nghìn, nhưng nay mai thôi, quần hùng nghe tin Tả Đô đốc dấy quân ắt có kẻ theo về. Ngay cả trong quân của Lý Đạo Thành cũng có nhiều võ tướng trước đây là tùy tướng hoặc thân quân của Phạm Tu, hoặc chí ít mang ơn ông ta.
L�� Đạo Thành không sợ Phạm Tu kéo quân đến đây khi ông ta mạnh lên, bởi Phạm Tu là kẻ trung quân, ông ta sẽ chỉ phò tá nhà Lý. Nhưng trong tay ông ta làm gì có hoàng tử nào? Đến người trong hoàng tộc cũng chia đôi: một nửa về La thành, một nửa ở lại với Lý Đạo Thành.
– Lão này quả thâm sâu, nhất định ông ta còn lận lưng một quân bài chủ mà ta chưa biết. Nếu ông ta trung quân, phò tá tôn thất hoặc hậu nhân của tiên vương thì chí ít Hoàng tử Long Trát có phần nhiều cơ hội, vì đám Long Xưởng chắc chắn không dung nạp Phạm Tu. Như vậy, ta phải nhanh tay mới được.
Lý Đạo Thành nhớ lời dặn của Đại sư Nguyễn Minh Không, tuy chưa rõ ràng nhưng ít nhất cũng nên lo liệu cho tương lai. Thêm một bạn thì bớt một thù, vả lại nhân phẩm của Phạm Tu đáng để ông thử.
Hôm sau, Lý Đạo Thành bẩm báo với Long Trát. Long Trát đồng tình, vì lúc thiếu thời từng nghe danh Phạm Tu là bậc dũng tướng, giúp tiên vương dựng nghiệp, công chính liêm minh, giúp kẻ yếu, chống gian thần nên không có vây cánh.
Lý Đạo Thành cho ba chiếc thuyền giả làm thuyền buôn. Trong đó, hai thuyền chở ngũ cốc, một thuyền nhỏ chở bạc vàng, kèm theo một bức thư tay. Quyết định này của Long Trát và Lý Đạo Thành quả nhiên sau này đã mang lại cho họ nhiều lợi ích, nhất là khi gặp cơn nguy khốn.
Những dòng văn này được truyen.free biên tập và nắm giữ bản quyền, kính mong độc giả tôn trọng.