(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 5: Tam Vạn thôn trang
Ngôi nhà ngang xây gạch vồ đắp đất, mặt trước ốp ván gỗ, nằm giữa một làng nhỏ dưới chân núi Linh Sơn. Đêm mưa to gió lớn, chớp giật liên hồi, ánh đèn dầu lạc vẫn heo hắt. Người đàn ông tuổi trạc ngũ tuần ngồi một mình bên bàn trà tre, nét mặt đầy suy tư.
Bấy lâu nay, những đêm trời mưa gió, ông đều thức trắng, lặng nhìn khoảng tối đen ngoài cửa chính, d��i theo những tia sét sáng trắng xé đôi bầu trời rồi vụt tắt. Ông không biết mình chờ đợi điều gì, suốt mười năm qua, kể từ ngày về làng, trong lòng ông luôn khắc khoải chờ mong một bóng hình theo khẩu dụ của nhà vua.
Có tiếng bước chân lại gần, ông quay sang, nhận ra con trai trưởng Phạm Bỉnh Di cùng con thứ hai, Phạm Cự Lượng, đang gỡ nón lá, treo áo tơi bện rơm lên vách. Phạm Bỉnh Di năm nay hai mươi sáu tuổi, Phạm Cự Lượng vừa tròn hai mươi tư, cả hai đều là những tráng niên cường tráng.
-Thưa cha, mưa lớn thế này, ngày mai nước sông sẽ dâng cao, e rằng bãi dâu và vườn sắn sẽ bị ngập.
-Hai con ngồi xuống, uống chén trà cho ấm bụng. Ta còn mấy củ khoai vẫn trong nồi, Lượng, con đem ra đây.
Phạm Bỉnh Di cúi đầu chào cha rồi kéo ghế ngồi, vừa vắt ống quần ướt sũng, anh vừa nói:
-Đêm nay sấm chớp, ban nãy sét đánh thẳng vào cây đa cha ạ.
Lời con trai vừa dứt, Phạm Tu giật mình:
-Cây đa có sao không?
-Bọn con đến xem rồi, chỉ có vài cành nhỏ bị sét đánh gãy, cây không hề hấn gì.
Phạm Tu đứng dậy, chắp hai tay sau lưng, đi đi lại lại cho đến khi hai con mời ông ngồi. Ông nắm chặt tay, đấm nhẹ xuống bàn.
-Như vậy là có điềm, có điềm rồi.
-Điềm gì thưa cha?
Phạm Cự Lượng ngạc nhiên.
-Mười năm nay chúng ta ở đây đã chứng kiến bao cơn mưa lớn, trải qua mấy trận lụt, vậy mà cây đa vẫn không hề suy suyển. Đêm nay sét đánh thẳng vào đó, e là một điềm báo cho ta.
Hai anh em nhìn nhau cùng lắc đầu, họ không hiểu cha mình đang đề cập chuyện gì. Ở đây hơn chục năm, hai anh em cùng nhiều người khác đều được căn dặn phải canh chừng cây đa, tuyệt đối không được làm gì hại đến cây. Mưa gió bão bùng, nếu cây có gãy cành thì nhặt đem bỏ vào gốc. Thậm chí, gần gốc đa còn có một điếm canh suốt ngày đêm. Chẳng ai biết vì sao phải làm vậy, chỉ biết đó là lệnh của lão gia, không ai dám hỏi.
-Bỉnh Di, mau mời cô đến đây.
Bỉnh Di vội vàng chạy đi, Cự Lượng ngồi thản nhiên ăn đến củ khoai thứ hai. Anh hiểu tính cha, ông muốn nói gì thì tự khắc ông sẽ nói, hỏi linh tinh chỉ tổ tai bay vạ gió.
-Lượng! Binh mã của con vẫn chăm chỉ luyện tập đấy ch���?
-Dạ, không lơ là.
-Có chuyên tâm đọc trận pháp?
-Chỗ nào chưa hiểu con đều hỏi anh Di.
-Đừng lười biếng, đừng làm qua loa đại khái. Nay con chăm chỉ thao luyện cùng anh em, mồ hôi đổ nhiều thì ngày sau ra chiến trường bớt đổ máu.
-Dạ.
-Nhớ lời cha dặn, sáng mai con cùng anh em chia thành từng tốp đi dò la quanh vùng. Hãy tìm người thu���n tay phải.
-Nam nhân hay nữ tử, thưa cha?
-Ta không biết.
Phạm Tu quay sang nhìn con trai, vừa cười vừa nói:
-Chỉ biết là tìm người thuận tay phải, bất kể già trẻ, lớn bé, đều tìm cách mời về đây. Mời chứ không phải bắt!
Phạm Tu nhấn mạnh.
-Dạ!
Đây không phải lần đầu Cự Lượng nghe cha dặn đi tìm người thuận tay phải. Châu Vũ Ninh vốn đã nhỏ hẹp, sông Thiên Đức lại chia đôi thành hai bờ. Bờ Nam thì tất cả anh em đã tìm hàng trăm lần rồi, cứ có mưa giông sấm chớp là y như rằng sáng hôm sau lại phải cơm nắm muối vừng đi tìm một người không rõ nhân thân. Ở vùng đất này, người thuận tay phải là rất hiếm; hồi còn ở kinh thành náo nhiệt, trăm người mới có một. Châu Vũ Ninh này dân cư không nhiều, đã vậy còn bị bắt lính, bắt phu liên tục, lấy đâu ra người? Tìm ở bờ Nam chắc chỉ cần xem nhà nào mới có em bé thì may ra.
Bờ Bắc cũng thuộc châu Vũ Ninh nhưng vùng ấy nhiễu nhương loạn lạc, mò sang đó mà chạm mặt quân của Vũ Ninh vương thì lại to chuyện. Vũ Ninh vương chiếm cứ bờ Bắc sông Thiên Đức ngót mười năm nay, quân đông lại hung hãn. Mò được vào thành Bát Vạn tuy dễ tìm người, nhưng việc trở về được lại cần đến may mắn.
Mưa đã ngớt, Bỉnh Di đưa cô ruột là Phạm Quý phi đến. Tuy tuổi đã ngoài bốn mươi song bà vẫn trẻ đẹp, giữ được nét cao sang quyền quý dẫu đã ở nơi thôn dã mười một năm trời.
-Có tin gì mà anh gọi em đến giờ này?
-Cô uống nước vối hay dùng gì khác không?
Cự Lượng đi rót nước cho cô. Phạm Tu đưa mắt ra hiệu hỏi xem bên ngoài còn có ai không, Bỉnh Di khẽ lắc đầu. Ông liền bảo hai con ngồi xuống và hạ giọng:
-Ta nghĩ cũng đến lúc cho hai con biết một vài chuyện đã, đang và sắp xảy ra. Chuyện này nghe xong thì để lại đây, không được mang ra khỏi cửa.
-Còn cái Bình, có gọi nó đến không cha?
Bỉnh Di hỏi.
-Em nó mới mười bảy, đang tuổi ăn tuổi ngủ. Giờ gọi nó dậy thì liệu cả cái làng này có còn yên giấc? Hơn nữa, chuyện hệ trọng, bớt được một người xem như bớt một mối họa.
Trong ánh đèn dầu, bên chiếc bàn gỗ nhỏ, mưa đã ngớt, Phạm Tu hạ giọng kể cho hai con nghe vài chuyện đã xảy ra từ mười bốn năm về trước. Song ông cũng giấu đi vài điều chưa kể, đặc biệt là thân thế của trưởng công chúa. Ông kể về lý do toàn bộ thái ấp ở kinh thành phải bí mật chuyển về vùng này; về việc phải đút lót cho quan địa phương để được lập làng, rồi mua ruộng từng ít một; về việc vì sao mấy công tử nhà họ Phạm, con trai của Tả Đô đốc quyền thế, đột nhiên phải âm thầm rút từng người một đến nơi này; và vì sao phải lập tận ba làng chứ không gom chung một chỗ…
Ngày ấy, thái ấp của Phạm Tu nằm ngoài La thành, thường tiếp nhận cô nhi và quả phụ đến nương nhờ. Những cô nhi không có ai nhận nuôi đều được Phạm Tu nhận làm con nuôi. Lúc đông nhất, số trẻ lên đến hơn năm trăm, đủ cả trai lẫn gái, bé nhất mới lọt lòng, lớn nhất mới lên mười. Các quả phụ có chồng hay con tử trận cũng được cưu mang, ông cho họ ở trong thái ấp làm việc hoặc cứu tế đôi lần mỗi tháng.
Đàn ông trong thái ấp khi ấy chủ yếu là lính bản bộ thân cận với Phạm Tu, khoảng hơn năm mươi người. Sau khi nhận khẩu dụ và mật chỉ của Lý Nam Vương, Phạm Tu đã chia người trong thái ấp thành nhiều tốp, bí mật rời đi. Lính bản bộ mỗi tốp khoảng dăm ba người, giả trang thành lưu dân, cùng hàng chục quả phụ dẫn theo hai hoặc ba mươi đứa trẻ đến châu Vũ Ninh. Sau khi tạm ổn định cuộc sống, họ lại về đón người ở thái ấp, cứ vậy mà rút dần.
Phạm Quý phi bị Lý Nam Vương đuổi khỏi cung, chẳng ai đoái hoài bởi bà sinh con gái, con lại đã bị bắt mất. Trước đây được vua yêu chiều, nay bị đuổi, khiến các bà phi khác mừng còn không hết.
Ba ngôi làng nằm ven chân núi, hướng ra sông Thiên Đức, tạo thế chân kiềng, gồm: Nhất Vạn, Nhị Vạn và Tam Vạn – còn được gọi là làng Nhất, làng Nhị và làng Tam. Tổng dân số của ba làng trước khi Lý Nam Vương băng hà là gần chín trăm người, hơn một nửa là trẻ con. Số còn lại là đàn bà và quân bản bộ được Phạm Tu cho giải ngũ theo về. Những người lính này nhất mực trung thành, đã đem theo gia quyến về làng.
Sau khi Phạm Quý phi bị đuổi khỏi cung, Phạm Tu cũng xin từ quan về quê, bán lại thái ấp cho đồng liêu với giá chỉ bằng hơn phân nửa giá trị thực. Chẳng ai đếm xỉa bởi em gái ông đã thất sủng, ông về thì ghế dư ra một cái. Thời bình, quan văn mới thể hiện tài năng, chứ quan võ chỉ là chuyện cũ rích.
Ngày Phạm Tu rời La thành chỉ có mươi lính theo hầu. Ông về gần đến quê thì biến mất biệt tăm. Mấy tháng sau vua băng hà, quan tướng bận tìm chỗ đứng để đứng đúng chỗ, nào ai hơi đâu để tâm đến một võ quan hết thời như ông? Trong mười năm qua, Phạm Tu cho người bí mật đến các vùng lân cận, tìm những người già neo đơn, phế binh, trẻ em nơi đầu đường xó chợ và đưa về. Ông muốn ba làng Vạn giống một ngôi làng bình thường nhất có thể.
Có thể nói, sau mười năm, người ngoài nhìn vào ba làng này đều không thấy có gì đặc biệt. Những người ở độ tuổi bị bắt đi lính rất ít, vì đám tuyển binh đều nhận bạc vàng làm ngơ. Hơn nữa, Phạm Tu, một võ tướng dày dạn trận mạc, đủ khả năng cất giấu binh lực. Người lạ rất khó vào làng khi hai mặt đều được trồng tre và cây cối phủ kín, bên ngoài chân lũy có hầm chông. Lối vào làng cũng nhiều cây cối, được bố phòng cẩn mật như một doanh trại.
Mặt sau của làng dựa vào núi Linh Sơn. Cách làng cứ hai dặm lại có một điếm canh bí mật. Lấy ba làng làm trung tâm, có thể nói rằng trong bán kính bốn dặm xung quanh, nếu có người hoặc nhóm người lạ xuất hiện đều sẽ bị phát hiện.
Giao thương của ba làng, như mắm muối, thịt cá, đều diễn ra ở bến sông. Hiện tại, cả ba làng có tổng số nhân khẩu khoảng một nghìn ba trăm người. Lớp cô nhi từ thái ấp đưa về nay ít nhất cũng đã mười bốn, mười lăm tuổi. Song làng vẫn có trẻ sơ sinh, bởi các cô nhi trưởng thành đã lấy nhau, hình thành gần hai trăm cặp đôi. Tất cả đều mang họ Phạm, chỉ một số ít trẻ mang họ khác.
Mỗi làng đều có một trưởng làng trên danh nghĩa, để lo các thủ tục đất đai, cầu cạnh quan trên, và tiếp đón đám thu thuế ruộng. Còn thực tế, Phạm lão gia, tức Phạm Tu, có quyền hành tối cao. Bởi lẽ, chí ít ông có đến hơn năm trăm đứa con, đứa nào đứa nấy cũng kính trọng ông hết mực.
Nói một cách đơn giản, ba làng Vạn là những thôn trang biệt lập, ít giao du với những làng m���c xung quanh.
Bản biên tập này là một phần trong kho tàng trí tuệ của truyen.free.