(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 430: Quán nhỏ ven đường
Chợ Diên Ứng, nhờ vị trí đắc địa ven sông Dâu, kề thành Luy Lâu và gần Diên Ứng tự, nhanh chóng trở thành một trung tâm sầm uất, lớn nhất phủ Thiên Đức. Đường sá quanh khu vực chợ đều được đổ bê tông, cùng nhiều căn nhà gỗ kiên cố được dựng lên, phần lớn dùng làm nơi ăn ở, học tập cho sĩ tử từ các phủ khác đổ về theo học tại trường quân sự hoặc quân y.
Cách trung tâm chợ Diên Ứng chừng một dặm là khu nhà gác tía lầu son, thường gọi là dịch quán. Đây là nơi ở dành cho quan khách từ các địa phương khác có việc bang giao với Thiên Đức. Khu nhà hướng mặt ra đường Tả Siêu Loại, kế bên là dòng sông Khoai hiền hòa. Sứ thần, quan khách được chấp thuận diện kiến Thủ tướng, tức Thần phi Diệu Huyền, sẽ xuống thuyền xuôi dòng, đi gần hai mươi dặm sẽ đến điện Hưng Quốc.
Thời gian quan khách chờ đợi Vạn Thắng vương hoặc Thần phi tiếp kiến không cố định, tùy thuộc vào tầm quan trọng của tin tức hay thư từ. Nhanh thì chỉ ba ngày, chậm có thể nửa tháng. Vì lịch tiếp khách được sắp xếp rõ ràng, trong thời gian chờ đợi, quan khách có thể tự do đi lại trong bán kính khoảng một dặm tính từ dịch quán. Họ thường đến hai nơi là vãn cảnh chùa Diên Ứng hoặc mua sắm trong chợ. Mỗi khi rời dịch quán, ngoài số tùy tùng của mình, họ luôn có quân Thiên Đức theo kèm. Ngay cạnh dịch quán là trụ sở và doanh trại của một tiểu đoàn bộ binh. Các đoàn quan khách đến Thiên Đức ít thì chục người, đông có thể lên đến hàng trăm. Hầu như đoàn nào cũng có gian tế dò la tin tức, vậy nên dịch quán được giám sát rất chặt chẽ cả ngày lẫn đêm. Bách tính trong vùng đều hiểu rõ điều này, họ hạn chế tiếp xúc với những người đi chợ mà bên cạnh luôn có lính Thiên Đức kè kè.
Hôm nay là chợ phiên nên Diên Ứng đông đúc hơn thường lệ, trong chợ bày bán đầy đủ các mặt hàng. Nói không ngoa, hàng hóa ở chợ Diên Ứng đa dạng hơn cả La Thành, kể từ khi quân Thiên Đức kiểm soát toàn bộ cửa sông Xích Giang. Thương nhân miền thượng du hay các vùng như La Thành, Sơn Tây... muốn giao thương hàng hóa đều phải ghé qua Hiến Doanh. Thương nhân ngoại quốc muốn vào buôn bán cũng phải ghé thuyền vào Hiến Doanh. Còn muốn buôn bán sâu vào trung tâm đất Thiên Đức thì chỉ có chợ Diên Ứng. Dưới sự sắp đặt của Lâm Uyển Như, thương nhân bên ngoài muốn mua hoặc bán thứ gì đều phải được Bộ Công Thương chấp thuận, cụ thể là Ty Thương nghiệp do Nguyễn Gia Miêu quản lý. Ty Thương nghiệp đóng vai trò trung gian, làm cầu nối giữa bên bán và bên mua mà không thu bất cứ khoản phí nào ngoài các khoản thuế đã quy định từ trước. Thực tế, người dân muốn bán nông sản sẽ đăng ký trước với Ty, có thể gửi nông sản như lúa, gạo, ngũ cốc tại các kho do Ty Thương nghiệp cai quản. Ty Thương nghiệp sẽ bán nông sản đó cho thương nhân hoặc bán cho hậu cần của Bộ Quốc phòng. Mọi thứ đều minh bạch; những cá nhân công tác trong các bộ phận thu mua của Ty Thương nghiệp đều có nhân thân tốt, không muốn liên lụy đến người thân đang giữ trọng trách trong quân đội. Như đã nói, chính quyền Thiên Đức dẫu hướng đến dân sự nhưng thực chất vẫn chịu ảnh hưởng lớn từ Bộ Quốc phòng.
Tưởng Kính cùng một nhóm tùy tùng hơn mười người đi dạo trong chợ. Ông đã chờ diện kiến Vạn Thắng vương hơn chục ngày và có thể phải chờ lâu hơn nửa tháng, bởi Vạn Thắng vương đang cầm quân đánh nhau ở mạn Bắc. Đây là lần thứ hai Tưởng Kính đi chợ Diên Ứng, ông muốn xem dân tình xứ này làm ăn buôn bán ra sao. Tưởng Kính tỏ ra vui mừng và phần nào tự hào khi thấy rất nhiều mặt hàng bày bán trong chợ có xuất xứ từ phương Bắc. Dưới sông, hàng chục thuyền buôn lớn nhỏ của Hoa quốc đang neo đậu càng khiến Tưởng Kính thêm phần đắc ý. Ông xem dân xứ này như đám mọi rợ, một sắc dân phần đông mù chữ, chỉ như một sắc dân thiểu số và... thứ gọi là điện Hưng Quốc thậm chí chẳng đáng so với phủ đệ của ông ở quê nhà. Kẻ xưng vương chỉ đến thế, làm sao mong bách tính được ấm no?
Hôm đầu đi chợ, Tưởng Kính ngạc nhiên và hỏi người chỉ huy quân Thiên Đức rất nhiều điều. Người này từng là một văn nhân, cử chỉ vô cùng nho nhã. Anh ta nói cha mình trước đây từng là thuộc hạ của chủ cũ đất Siêu Loại. Chợ sầm uất hơn suy nghĩ của Kính, nhưng khi biết đây là ngôi chợ lớn nhất trong vùng thì Kính chỉ lắc đầu thở dài. Điều khiến Kính khó chịu ra mặt là bách tính Vạn Xuân vận y phục rất tùy tiện, dân đen dám mặc y phục màu vàng – màu sắc chỉ dành cho bậc đế vương. Một số cụ bà mà Tưởng Kính từng gặp khi vãn cảnh chùa mặc áo vàng thêu hoa văn rất cầu kỳ, có bà còn quấn thêm khăn màu vàng, khiến Tưởng Kính nghĩ người đó là… họ hàng của Vạn Thắng vương.
Tưởng Kính khá coi thường Vạn Thắng vương. Đầu tiên, Vạn Thắng vương tuổi còn trẻ, chẳng có dáng dấp đế vương mà chỉ như một thiếu gia con nhà địa chủ mới phất. Chẳng ai giải thích cho Tưởng Kính vì sao kỳ hiệu quân đội Thiên Đức lại có hình thù kỳ dị, một con hổ có sừng trâu. Tưởng Kính từng tin rằng chỉ đám man di mới nghĩ ra thứ hình thù như vậy. Dạo trước, có thương nhân nói với Tưởng Kính ý nghĩa của hình thù trên kỳ hiệu, Kính chỉ gật gù cho là tuổi trẻ bồng bột. Bậc quân vương dựng cờ mà chiều theo ý đàn bà thật khó thành nghiệp lớn. Vạn Thắng vương chẳng khác nào một tù trưởng nơi đồng bằng. Sau cùng, Vạn Thắng vương không biết chữ, một kẻ mù chữ đứng đầu thiên hạ, thử hỏi xứ này liệu có tương lai tươi sáng hay không? Thứ chữ Vạn Xuân gì đó hẳn do một nhân sĩ giấu mặt viết ra chứ chẳng thể do kẻ mặt mũi non choẹt như Vạn Thắng vương.
Một xứ vô pháp vô thiên, vương chẳng ra vương mà dân chẳng ra dân không thể là một mối nguy với Đại Vũ đế, kể cả nay mai Vạn Thắng vương có thống nhất được đất Vạn Xuân. Đại Vũ đế từng nói với Tưởng Kính rằng đất phương Nam nhiều lam sơn chướng khí, thủy thổ không hợp với quân phương Bắc.
– Đất ấy dễ chiếm nhưng khó quản. Cứ để một đứa quản, nó thần phục ta là được. Chúng ta là thiên triều. Còn đám man di ấy, quanh năm suốt tháng đánh nhau cũng tốt lắm, tiếp thêm chút sức cho chúng giằng co nhưng tuyệt đối không giúp thằng nào trở nên mạnh hơn.
Tưởng Kính dừng bên cạnh một quán nước. Có nhiều loại đồ uống, và Tưởng Kính chọn nước vối nóng nhâm nhi thay vì trà. Trà ở đây không ngon, nhưng lá vối thì rất tuyệt. Tưởng Kính nói với chỉ huy cảnh vệ, giọng châm biếm:
– Đại Vương của các ông sao lại cho dân mặc y phục hoàng triều? Thứ y phục màu vàng óng ả đó chỉ dành cho bậc vua chúa mà thôi. Vương xứ này trẻ quá, dường như chưa được dạy phép tắc ngàn đời nay.
Người chỉ huy trẻ chỉ khẽ cúi đầu mà không đáp lời. Tưởng Kính hỏi:
– Ông cứ nói, chúng ta chỉ bàn luận thôi. Đại Vương của ông không câu nệ hay là Vương cấm các ông nói chuyện ngoài phận sự?
– Thưa Tưởng đại nhân, tôi thiết nghĩ mỗi nơi mỗi khác, ngay cả trong một nhà đông anh em còn mỗi người mỗi tính nết. Đại Vương của chúng tôi rất thích sự khác biệt và yêu tự do. Thế nên bách tính Thiên Đức tự do mặc y phục họ muốn. Y phục không nói lên bản chất con người và không đại diện cho bất cứ điều gì cả, thưa ngài.
Tưởng Kính nhếch miệng cười nhạt không nói thêm. Loanh quanh trong chợ một hồi, Tưởng Kính chỉ vào một người đàn ông trung niên vận y phục màu vàng nhàu nát, cụt một chân chống nạng đang đứng mua hàng.
– Ta nhìn cứ tưởng Đại Vương của các ông cơ đấy.
Người chỉ huy trẻ thản nhiên đáp lời:
– Bách tính Vạn Xuân nói chung và Thiên Đức nói riêng đều là con của rồng nên bình đẳng, ai cũng như ai. Bách tính gặp Vạn Thắng vương còn chẳng phải quỳ gối dập đầu vì đều là người một nhà. Tuy thế, tôi nghe nói ở phương Bắc chỉ bậc đế vương mới là con của rồng, còn lại thân phận đều thấp hèn. Đại nhân thứ lỗi, tôi hiểu biết hạn hẹp, chỉ nghe lõm bõm mấy thương nhân nói thế nên… mong ngài chỉ giáo nếu không phải.
Tưởng Kính giận tím mặt, phẩy tay áo bỏ đi thẳng một mạch về phía dịch quán. Người chỉ huy trẻ cố giấu nụ cười đắc ý, nhanh chân bám sát. Về được chừng nửa quãng đường, Tưởng Kính trông thấy một thằng bé ăn vận rách nát, mặt mũi nhọ nhem, cắp giá đi ngược lại. Ông dừng chân chờ người chỉ huy trẻ đến gần rồi hất hàm nói:
– Con cháu của rồng đây ư? Thật nực cười. Có khi các ông nhầm với giun dế cũng nên.
Người chỉ huy trẻ lặng im không đáp khiến Tưởng Kính tỏ ra đắc ý. Cậu bé vừa đi ngang, bỗng nhiên một kẻ nào đó trong số tùy tùng đánh rắm rất lớn. Tưởng Kính liền nói:
– Lôi động Nam bang.
Tưởng Kính vừa dứt lời, đám tùy tùng theo hầu nhại phụ họa rồi cùng nhau cười phá lên đắc chí. Cậu bé dừng chân ngoái lại nhìn bọn Tưởng Kính một lượt từ đầu đến chân, đoạn cậu vứt cái giá xuống vệ đường, tụt quần vạch "chim cò" tè xuống mặt đường bê tông. Nước tiểu bắn tung tóe.
– Vũ qua Bắc hải!
Đến lượt những người lính Thiên Đức cười phá lên một tràng đầy vẻ hài lòng.
– Tôi đã nói với đại nhân rồi, y phục không đại diện cho một người nào cụ thể, chỉ là thứ che thân mà thôi. Có tiền có chức thì mũ cao áo dài, nghèo khó thì lá chuối dùng che thân cũng chẳng vấn đề gì, quan trọng là cốt cách và… nòi giống con cháu của rồng, thưa đại nhân.
Tưởng Kính thêm một lần giận tím mặt, buông vài l���i mắng chửi đám tùy tùng rồi hằm hằm quay gót bước thẳng một mạch về dịch quán. Một lúc sau, dường như không nuốt trôi cục tức, Tưởng Kính quay trở ra, đứng trước cổng lớn dịch quán nhìn ngang ngó dọc. Bên kia đường, chếch về phía tay phải so với cổng dịch quán, có một khoảnh đất tương đối bằng phẳng. Dưới mấy tán cây có một quán nước nhỏ, mái lợp tranh, vách ba bề là những tấm liếp tre đan.
Chủ hàng quán là một người đàn bà tuổi ngoài năm mươi, trên đầu vấn khăn mỏ quạ đen bịt kín hai tai, luôn miệng nhai trầu bỏm bẻm. Quán bán những loại nước thông thường như trà, nước vối. Ngoài ra, quán còn có thuốc lào, hoa quả theo mùa bày trên mấy cái đĩa sứ và mấy lọ sứ đậy nắp, bên trong là kẹo, ô mai… Trong quán có nhiều ghế đẩu, ghế gỗ dài các loại, quanh năm suốt tháng không ngớt khách ra vào. Khách thường ngày là quân nhân; bà chủ hiếm khi lấy tiền nước, những người lính muốn trả bao nhiêu thì trả. Cuối mỗi tháng, ai thiếu nợ bao nhiêu tự tính rồi thanh toán.
Ngoài quân nhân, thân nhân đến thăm vào cuối tuần cũng thường ngồi chờ trong quán này. Quan nhân vùng khác đến thi thoảng cũng ghé vào sau bữa ăn để hóng chuyện.
Bà chủ quán nước là mẹ liệt sĩ, hai trong số các con trai của bà đã mồ yên mả đẹp bên nghĩa trang huyện Thiên Đức. Tất nhiên điều này chẳng mấy ai biết, và hai người con khác của bà hiện đang công tác trong cơ quan thuộc tuyến sau của Bộ Quốc phòng Thiên Đức. Người con gái út mới mười bốn tuổi, ngoài giờ học ở trường sẽ phụ giúp bà phục vụ khách vào quán.
Chẳng mấy ai biết tên thật của bà chủ quán, mọi người hay gọi là bà Ấu.
Tưởng Kính đã ngồi thử trong hàng quán hai lần và tỏ ra khó chịu khi đám nông phu vác cuốc vác cày, quần xắn cao, cứ ra ra vào vào. Có điều Tưởng Kính để ý, đó chính là dân xứ này có vẻ hiền lành, thân thiện và rất hay cười. Tưởng Kính cho rằng trong số những người qua lại liên tục kia chẳng thiếu do thám của quân Thiên Đức.
Quán lúc này vắng người vì phiên chợ sầm uất cách một quãng, hôm nay cũng chẳng phải cuối tuần. Tưởng Kính trông thấy thằng bé ốm o, người đã khiến Kính bẽ mặt, bưng giá đựng hoa quả đi ngang qua rồi biến mất trong quán. Ma xui quỷ khiến thế nào, Tưởng Kính muốn hơn thua với thằng bé nên bước sang đường. Ba tùy tùng của Kính cùng hai người lính Thiên Đức liền theo sau.
Thằng bé ốm o ấy chẳng ai xa lạ mà chính là Lương Thế Vinh, tức Lương Tích Am. Người chỉ huy trẻ theo bảo vệ cho Tưởng Kính cũng là nhân vật quen thuộc, Hoàng Như Hổ.
Bản quyền văn bản này thuộc về truyen.free, nghiêm cấm mọi hành vi sao chép không được phép.