(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 341: Quân tiên phong
Thiên Bình vừa bắt đầu say mê với việc giúp dân làng Thượng Triệt làm giàu bằng nghề gốm, thì cô buộc phải giao lại công việc ấy cho Uyển Như đảm trách. Nguyên nhân là bởi vụ gặt đang đến gần, đồng thời kế hoạch chinh phạt vùng đồi núi Tây Bắc cũng đã đi vào giai đoạn cuối.
Trong chiến dịch lần này, lương thảo đóng vai trò cốt yếu vì địa hình hiểm trở và khoảng cách xa đại bản doanh. Nếu việc vận chuyển lương thảo gặp bất trắc, toàn bộ kế hoạch sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Chương quyết định dùng Thần Vũ quân để bảo vệ đường vận lương. Bùi Thị Xuân, Lê Chân, Triệu Nhã Lâm cùng Thiên Bình và gần hai nghìn nữ binh được giao nhiệm vụ áp tải số lương thảo này.
Đầu tháng Chạp, Trịnh Tú, Hoàng Như Hổ, Đoàn Nhữ Hài và Linh Thông Thuận lũ lượt đưa người Tống từ thuyền buôn về. Chương bố trí phần lớn người Tống định cư ở Tam Hưng, riêng số thợ đóng thuyền được đưa đến tập trung tại Siêu Loại. Những người dân mới ở Tam Hưng đã mang theo nhiều loại hạt giống và cây ăn quả để trồng quanh làng.
Ngay sau khi bàn giao người, nhóm Trịnh Tú chỉ được nghỉ ngơi ba ngày trước khi trình diện tại Vạn Xuân để làm phụ tá cho Chương.
Trung đoàn Thiên Đức, gồm bốn tiểu đoàn tinh nhuệ là Tam Vạn, Thiên Đức, Long Ngô Động và Súng trường với tổng cộng 2000 quân, bí mật di chuyển đến Phượng Sơn vào ban đêm. Anh em Vương Chí Linh dẫn đường để quân đóng tản mát trong bìa rừng. Phạm Bạch Hổ chỉ huy D41 (Tiểu đoàn súng pháo số 1) trực thuộc E Thần Sấm đến Phượng Sơn bằng đường thủy. Lê Phụng Hiểu trực tiếp chỉ huy D321 (Tiểu đoàn Thiết kỵ số 1, trực thuộc Đại đoàn Thánh Dực) cùng 500 quân cũng theo đường thủy tiến đến Phượng Sơn.
Bên cạnh đó, Đặng Sỹ Nghị điều D219 (Tiểu đoàn bộ binh Thần Sách số 9) từ thành Kinh Môn đi vòng qua Mao Khê để hội quân tại Phượng Sơn. Trương Văn Long dẫn D215 (Tiểu đoàn bộ binh Thần Sách số 5) từ Ninh Hải đến Phượng Sơn theo đường thủy. Lý Trí Thắng nhận lệnh điều động D118 (Tiểu đoàn bộ binh Thiên Đức số 8) từ Kim Động, còn Đinh Công Tráng dẫn D131 (Tiểu đoàn thủy binh Thiên Đức số 1) đang đóng ở sông Văn Giang đến bến Bình Than chờ lệnh.
Cuối cùng, Yết Kiêu điều động 40 chiến thuyền thuộc Tế Giang do Cao Mộc Viễn bàn giao, cùng 20 Xa Hải thuyền, sẵn sàng làm nhiệm vụ chở quân hoặc tải lương tùy theo tình hình thực tế.
Tổng cộng, Chương huy động 8000 quân thủy, bộ, kỵ, bao gồm cả đội quân Thần Vũ. Ngoài ra còn có 1000 dân binh do Mạc Dật chỉ huy, chịu trách nhiệm vận chuyển lương thảo theo quân. Anh em Vương Chí Linh và Vương Côn Sơn tập hợp 1000 quân, chia thành 4 đ��i để dẫn đường.
Vì binh sĩ Thiên Đức quen chiến đấu trên địa hình đồng bằng và sông nước, Chương đã điều động mỗi nơi một tiểu đoàn để các tướng sĩ có cơ hội trải nghiệm tác chiến tại rừng núi. Chương không huy động nhiều thuyền chiến, bởi lẽ chỉ có một con sông Minh Đức đủ rộng cho thuyền di chuyển ngược dòng, và các trại quân thủy bộ Vũ Ninh cũ (nay thuộc về Tam Đái) cũng không đông đảo. Hơn nữa, các tù trưởng, hùng trưởng cát cứ ở vùng Tây Bắc lại chẳng có thủy quân.
Chương nắm giữ trung quân, Phạm Cự Lượng giữ vị trí tiên phong, Lý An làm tham mưu, còn Thiên Bình chỉ huy hậu quân bảo vệ lương thảo. Mục tiêu cụ thể đã được giao cho từng tiểu đoàn.
Tại huyện Vũ Ninh, Phạm Tu thống lĩnh ba quân, đưa toàn bộ quân địa phương của các huyện Thiên Đức, Thừa Thiên, Siêu Loại cùng tân binh của Trương Lôi, tổng cộng khoảng ba nghìn quân, đến hạ trại bên bờ Nguyệt Đức, cờ phướn rợp trời.
Các đơn vị D42 Thần Sấm, D322 Thiết kỵ (chưa được trang bị đủ quân số và giáp trụ), D316 Chiến Thắng, D317 Toàn Thắng và D318 Vũ Ninh cũng đóng trại xen kẽ. Đặc biệt, Phạm Tu còn huy động 500 cô gái huyện Thiên Đức mặc y phục màu vàng, cầm theo kỳ hiệu Vạn Thắng vương tại soái trại. Nhiệm vụ của họ là lượn lờ bên bờ sông để đối phương nhìn thấy (gây nhiễu loạn thông tin), đồng thời đảm nhiệm công tác hậu cần cho quân đội. Cùng với E thủy quân Cao Mộc Viễn đóng trên sông, tổng cộng lực lượng thủy bộ lên đến gần 8000 người.
Ở bờ sông đối diện, Phan Văn Hầu điều đến hơn sáu trăm khẩu Cự thạch pháo để hỗ trợ bộ binh phòng thủ. Ngoài ra, Hầu còn điều 200 voi chiến ở tuyến sau làm lực lượng dự bị.
Vào trung tuần tháng Chạp, trời trở lạnh.
Sáng sớm một ngày giữa tháng Chạp, Cao Mộc Viễn hạ lệnh thủy quân bắn vài loạt thần công sang bờ Bắc, cốt ý khiêu chiến, dụ địch vượt sông. Phan Văn Hầu thân chinh ra tiền tuyến, không cho chiến thuyền giao chiến trực diện mà chỉ tuần tra qua lại ven bờ trong tầm yểm trợ của Cự thạch pháo. Cao Mộc Viễn cho thần công ngắm bắn gây hư hại một số thuyền đối phương rồi lui. Đến chiều muộn, hàng chục thuyền lớn chở bộ binh Thiên Đức vẫn tiếp tục di chuyển qua lại, rồi đổ quân lên bờ bắc để nổi lửa thổi cơm, tạo ra một màn nghi binh.
Mùa đông, trời sập tối nhanh chóng, hai bờ Nguyệt Đức đỏ rực ánh đuốc. Vào đầu trống canh Hai, Cao Mộc Viễn lại cho Xa Hải thuyền ra gần giữa dòng, ngắm bắn vào các chiến thuyền địch nhằm quấy phá. Binh sĩ Thiên Đức thay nhau trực chiến và chẳng hề bận tâm đến tiếng súng nổ đì đùng, bởi ngay cả lính dõng hay dân binh cũng đều biết nhiệm vụ của họ không phải là thực chiến; thay vào đó, các đơn vị chính quy mới là lực lượng chủ chốt. Trong trường hợp Phan Văn Hầu dám dẫn quân vượt sông, pháo binh, thủy quân và bộ binh trang bị hỏa mai như D316, D317 sẽ là lực lượng chủ lực đảm trách. Các đơn vị còn lại sẽ rút hết về thành Bát Vạn.
Phan Văn Hầu bán tín bán nghi khi thấy đối phương huy động chưa đến một vạn quân, một lực lượng không đủ để tổ chức tấn công vượt sông. Hai ngày sau, thám mã cấp báo tin, Phan Văn Hầu mới hay mình đã bị lừa. Ngay lập tức, ông điều 1000 kỵ binh, 3000 tinh binh cùng 100 thớt voi, tạo thành một đội quân hùng mạnh, vượt sông Nhật Đức hành quân theo hướng Tây - Tây Bắc đến thành Lạng Giang để tiếp ứng. Đồng thời, Phan Văn Hầu cũng sai thám mã cấp báo cho các tù trưởng ra sức chống quân Thiên Đức đến cùng, chờ đại quân Tam Đái đến.
Lạng Giang là tòa thành hình chữ nhật, được xây dựng trên một khu đất cao ráo gần sông Nhật Đức. Thành có chiều dài khoảng một dặm theo hướng Tây - Đông và chiều rộng hơn trăm trượng theo hướng Bắc - Nam. Tường thành được đắp bằng đất cao và dày, bốn góc xây bốn pháo đài cao hơn mặt thành khoảng một trượng, phía ngoài thành có hào sâu bao bọc. Bên trong thành được chia thành nhiều khu vực như Sở chỉ huy, doanh trại, nhà giam và kho lương thực. Trước đây, thành Lạng Giang vốn thuộc về Vũ Ninh vương, luôn có 1000 quân thường trực, đóng vai trò là phên giậu phía Tây Bắc của châu Vũ Ninh. Sau khi Sứ tướng Nguyễn Quốc Khánh thất trận, thành Lạng Giang thuộc quyền kiểm soát của Phan Văn Hầu. Hầu đã điều thêm 500 quân đến để trấn giữ.
Để đề phòng Chương ngược dòng Nhật Đức đánh thành Lạng Giang, Phan Văn Hầu đã bố trí hai đội thủy quân án ngữ hai bên bờ sông gần thành. Số thủy quân này toàn bộ là lính Vũ Ninh cũ. Phan Văn Hầu phòng xa là vậy, song quả thật, Chương chưa hề có ý định đánh thành Lạng Giang.
Sáng ngày 16 tháng Chạp, Phạm Cự Lượng dẫn lực lượng tiên phong của E Thiên Đức dễ dàng vượt sông bằng thuyền chở quân tại khu vực gọi là Bến Huyện. Sau khi đổ bộ, Phạm Cự Lượng chia quân thành hai mũi, thẳng tiến đến mục tiêu đã định. Ông dẫn hai tiểu đoàn tấn công một trại quân đồn trú; hơn trăm binh sĩ trong trại, nghe tin quân Thiên Đức kéo tới, đã bỏ chạy. Cự Lượng chiếm trại, sau đó chia quân thành các đội nhỏ đóng tản mát xung quanh.
Cùng thời gian ấy, Nghiêm Phúc Lý chỉ huy hai tiểu đoàn bao vây hai làng gần trại và đóng quân luôn trong làng.
Chương dẫn đại quân vượt sông, theo sau là Thiên Bình. Phạm Cự Lượng bàn giao trại quân đã chiếm được, rồi cùng Nghiêm Phúc Lý tiến lên hướng Bắc, chiếm thêm được mấy làng nhỏ. Các toán quân đồn trú tại những nơi này, chỉ vài chục người, đều đã tháo chạy. Đại quân Thiên Đức tiến chếch sang hướng Tây Bắc cũng không gặp khó khăn nào.
Đến ngày thứ ba kể từ khi sang sông, quân Thiên Đức vấp phải sự kháng cự đáng kể từ các tù trưởng người Nùng, Tày, Dao, Sán Chay. Ban đầu, các tù trưởng trong vùng dẫn mấy trăm thổ binh trang bị cung nỏ đến. Tuy nhiên, nhận thấy không thể chống lại các tiểu đoàn Thiên Đức trang bị tốt, họ đều rút lui.
Quân tiên phong của Phạm Cự Lượng liên tục gặp phục binh; vừa giao chiến, đối phương đã biến mất vào những cánh rừng già xanh ngát. Phạm Cự Lượng bèn hạ trại trên một thung lũng. Các tù trưởng người Nùng, Tày lợi dụng địa hình hiểm trở, ban đêm đưa thổ binh đến tập kích. Các đợt tập kích này tuy không gây thương vong đáng kể cho quân tiên phong nhưng lại khiến họ vô cùng ức chế.
Phạm Cự Lượng muốn bắt sống các tù trưởng, hùng trưởng nên đã bố trí các tiểu đội mai phục xung quanh trại chính. Mùa đông khắc nghiệt nơi núi rừng là một khó khăn mà binh sĩ Thiên Đức phải đối mặt, chưa kể các mối nguy từ rắn rết, muỗi, côn trùng. Do đã dự liệu và chuẩn bị kỹ càng, binh sĩ Thiên Đức ngoài áo nhồi lông động vật còn được cấp thêm túi ngủ và võng. Đêm nằm phục, họ sẽ chui vào túi ngủ để tránh muỗi và côn trùng. Tuy nhiên, các đội mai phục của họ không thành công; trái lại, một vài nhóm bị tấn công bất ngờ vào ban đêm. Điều này khiến Phạm Cự Lượng lấy làm lạ, liền triệu tập các chỉ huy để tìm hiểu nguyên nhân. Họ nhận ra rằng quân phục kích của địch đã ẩn nấp rất kín, tấn công bằng cung nỏ tẩm độc và ném đất đá rào rào với độ chính xác cao, chứng tỏ vị trí mai phục của Thiên Đức đã bị lộ. Trong trung đoàn có nhiều binh sĩ vốn là người Vũ Ninh, họ cho biết các tộc người bản địa ở nơi này leo trèo rất giỏi. Phạm Cự Lượng hiểu ra vấn đề, bèn quyết định tương kế tựu kế.
Ban ngày, Phạm Cự Lượng và Nghiêm Phúc Lý cử các đại đội trinh sát lùng sục xung quanh trại, đặc biệt chú ý đến những cây cao có tầm nhìn bao quát doanh trại. Sau khi xác định được các vị trí quan sát kín đáo này, Cự Lượng cử những binh sĩ giỏi leo trèo lên ẩn nấp sẵn. Đồng thời, ông bố trí quân mai phục xung quanh các vị trí đó rồi cho rút quân chủ lực về. Sau vài ba ngày áp dụng kế sách này, số quân Thiên Đức "có vẻ" như chỉ còn vài trăm người trong trại, thiếu mất một phần ba so với ban đầu, khiến địch dễ dàng mắc bẫy.
Song song với kế sách nghi binh đó, Phạm Cự Lượng, theo lời dặn của Chương, cử binh sĩ vào các thôn bản với lý do lục soát, nhưng thực chất là để nắm số nhân khẩu. Trước khi rời đi, họ còn tặng áo ấm cho người già, gạo cho phụ nữ và đường cho trẻ em. Tuyệt đối không có hành vi bắt bớ hay xét hỏi.
Về đêm, trong các khu rừng quanh trại quân lác đác có tiếng súng. Vài ngày sau, các đội mai phục đã dẫn giải về hơn trăm người đàn ông, cùng hơn chục xác chết bị bỏ lại trong rừng. Các tù binh được cho ăn uống no đủ và được cấp áo ấm mặc. Vương Chí Linh vỗ về, khai thác thông tin, từ đó biết được nơi ẩn náu của một tù trưởng người Nùng cùng hơn hai trăm thổ binh của ông ta.
Nghiêm Phúc Lý cùng Lý Kế Nguyên dẫn D Tam Vạn hành quân xuyên rừng theo sự chỉ dẫn của Vương Chí Linh và gia nô. Quả nhiên, họ phát hiện một hang động nằm lưng chừng núi, ẩn mình sau tán cây rừng rậm. Nghiêm Phúc Lý và Lý Kế Nguyên chia quân thành hai mũi tiếp cận, ném mấy quả lựu đạn và bắn vài loạt súng chỉ thiên, lập tức khống chế được tình hình, bắt sống toàn bộ thổ binh người Nùng cùng tù trưởng Nùng Dân Chính, rồi áp giải về trại.
Cùng thời gian đó, Phạm Sĩ Sách dẫn D Súng trường bắt được hơn một trăm thổ binh người Tày cùng tù trưởng Vi Văn Đính trong một hang động cách trại vài dặm.
Vi Văn Đính và Nùng Dân Chính bị giữ lại, còn các thổ binh thì được đưa về tận thôn bản để trao trả. Vương Chí Linh và Vương Côn Sơn không quên giảng giải cho họ: "Quân Thiên Đức đến vùng này mang theo sự ấm no. Họ không phải là kẻ thù."
Việc tin hay không là tùy vào người dân. Tuy nhiên, Phạm Cự Lượng đồng thời cho "mời" những ông cụ có uy tín trong các làng đến trại quân. Các cụ đến nghe chủ trương của quân Thiên Đức, sau đó được đưa về cùng với gạo, muối, tơ lụa và bạc.
Nùng Dân Chính và Vi Văn Đính không được thả ngay bởi họ là thủ lĩnh địa phương, phải chờ Vạn Thắng vương định đoạt. Sau khi bắt được hai người này, việc tập kích trại quân tiên phong đã giảm hẳn.
Nhận thấy hiệu quả của kế sách mị dân, Phạm Cự Lượng đã bẩm báo và đẩy mạnh việc thu phục lòng dân bản địa. Nhiệm vụ của quân tiên phong cũng thay đổi, chuyển sang phong tỏa các con đường từ vùng Lạng Giang lên phía Tây Bắc.
Toàn bộ nội dung này là tài sản trí tuệ của truyen.free, nghiêm cấm sao chép dưới mọi hình thức.