Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 289: Bên gò đất cao

Đoàn Thượng dẫn quân tràn vào Trang Minh Liễn, bắt giữ toàn bộ quân sĩ rồi phân loại. Những người dưới 25 tuổi được gom riêng, sau đó tất cả được đưa lên thuyền của Triệu Trung.

Trong khi Đoàn Thượng đang kiểm soát tình hình ở Trang Minh Liễn, Hoàng Thái Công hộ tống đoàn thuyền của Triệu Trung, vận chuyển bốn tiểu đoàn Vũ Ninh, Môn Thôn, Sơn Tây và Kim Động, với hai nghìn quân vũ trang đầy đủ. Họ xuôi dòng Cửu Biền ra sông Phú Lương, đóng quân ngay tại bờ hữu ngạn và hạ trại kiểm soát cửa sông. Sau đó, các tiểu đoàn lần lượt tỏa ra khắp vùng Tiên Minh, rồi tiến ngược dòng Phú Lương, lấn sâu vào đất của cả Phạm Lệnh công và La Lệnh công.

Bốn thuyền Xa Hải và tám thuyền Mông Đồng, cùng Tiểu đoàn Kim Động, trấn giữ cửa Trà Lý. Tại đây, Trịnh Tú, người từng là Tiểu đội trưởng, nay đã giữ chức Trung đội phó. Sau trận chiến này, Trịnh Tú được tuyên dương vì lòng dũng cảm. Đoàn Thượng đề bạt Trịnh Tú lên làm Đại đội trưởng và cử anh về học tại Trường Quân sự Vạn Xuân.

Đến Tết Nguyên tiêu, toàn bộ vùng Nghi Dương và Tiên Minh đã rơi vào tay quân Thiên Đức. Một số làng mạc chống đối buộc phải quy thuận trước lời tuyên bố dứt khoát của quân Thiên Đức: "Đánh nhau là việc của binh lính. Dân cầm đao kiếm chống lại quân sẽ không được tha. Quân bình định của Triệu Trung sẽ tàn sát bất kỳ làng nào chống đối. Ngược lại, nếu quy thuận và tuân theo quy định của quân Thiên Đức, mọi sinh hoạt buôn bán sẽ diễn ra bình thường, không ai bị động đến. Các thứ thuế được miễn đến hết năm, các hương thân, văn thân vẫn được tiếp tục công việc cũ và sẽ được Thiên Đức trả lương bổng đầy đủ".

Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người hay mọi làng đều nghe theo và tin tưởng. Với sự hỗ trợ vũ khí, lương thực từ Phạm Lệnh công và La Lệnh công, các cuộc chống đối diễn ra rất quyết liệt. Quân Thiên Đức kéo đến chỉ tha phụ nữ và trẻ em, còn lại, Triệu Trung đã tiêu diệt tất cả, đúng như những gì đã yết thị từ trước. Đàn bà và trẻ em trong hai làng này đều bị đưa đến sống rải rác tại Kinh Môn, Thủy Đường, Siêu Loại và Kim Động.

Sổ sách ghi rõ nhân thân của những người này. Sau này, nếu có sung quân thì cũng chỉ được làm binh tốt; hoặc nếu theo đường học vấn, cũng không được giữ chức vụ cao trong bộ máy. Tất nhiên, những quy định này do Chương cài đặt vào điều lệ của Thiên Đức hội, chứ không ban bố rộng rãi trong dân chúng. Hơn nữa, nếu không phải thành viên Thiên Đức hội, thì sẽ không được giữ bất kỳ chức vụ nào trong quân đội lẫn chính quyền trong ít nhất ba đời.

Khi hai làng giáp ranh rơi vào tình cảnh máu chảy đầu rơi, tiếng dữ đồn xa, không một làng nào khác dám cầm vũ khí chống lại quân Thiên Đức. Nếu buộc phải cầm, họ sẽ đầu hàng và giao nộp ngay khi quân Thiên Đức đến nơi, đồng thời cũng không bị hạch tội gì cả.

Bởi Nghi Dương và Tiên Minh được coi là phên giậu, nên mọi tội danh chống lại quân đều bị biền tru. Các vùng tạm chiếm đều phải áp dụng cách thức này để mau chóng ổn định tình hình một cách nhanh nhất có thể, trước khi các văn nhân tiếp quản.

Vào tối ngày 29 Tết, quân sĩ Đại đoàn Thiên Đức âm thầm xuống thuyền, vượt sông sang trại quân đồn trú bên bờ Văn Giang. Yết Kiêu điều một nửa Tiểu đoàn Kình Ngư đang đóng ở Phượng Sơn về sông Văn Giang, làm hậu quân trợ chiến cho Tiểu đoàn thủy quân Siêu Loại do Đinh Công Tráng chỉ huy, lực lượng này nay đã trực thuộc Đại đoàn Thiên Đức.

Phạm Cự Lượng chỉ huy, Lý An làm tham mưu, lấy Trung đoàn Thiên Đức làm nòng cốt. Cự Lượng chia quân làm ba cánh cùng tiến. Lý Kế Nguyên dẫn Tiểu đoàn Tam Vạn tiến theo cánh tả, Phó Đoàn trưởng Nghiêm Phúc Lý theo sát. Trung quân có Tiểu đoàn Long Ngô Động của Trần Nguyên Hãn và Tiểu đoàn Súng trường do Phạm Sĩ Sách đốc suất. Bên cánh hữu có Đoàn Luy Lâu dưới quyền Lý Công Thành. Do Lý Công Thành còn trẻ, Đoàn trưởng Nguyễn Lạc Thổ đi kèm.

Tiểu đoàn pháo binh chỉ với 350 quân dưới quyền Cao Lịch, di chuyển trong đội hình trung quân. Cao Lịch trước đó được điều sang Thần Sách, nhưng sau khi sắp đặt xong bên ấy, lại quay về Thiên Đức để hoàn thiện Tiểu đoàn pháo binh.

Tổng quân số tuyến đầu là 3100 binh sĩ thủy bộ vô cùng thiện chiến.

Hậu quân gồm quân địa phương, tân binh và lực lượng tiếp vận, với tổng số 4000 người. Tất cả đều được trang bị đồng nhất nỏ Liên Châu và đoản đao.

Lữ đoàn Thần Sấm của Phạm Bạch Hổ không tham gia trận đánh. Thay vào đó, Phạm Bạch Hổ chịu trách nhiệm phối hợp với Tiểu đoàn thủy quân Long Vũ và trung tâm tân binh do Trương Lôi chỉ huy, bảo vệ huyện Thiên Đức ở mặt Bắc, đề phòng Nguyễn Quốc Khánh thừa cơ đánh úp.

Yết Kiêu cũng không tham gia trực tiếp. Ông dẫn một tiểu đoàn mới thành lập với 800 quân, đóng tại ngã ba sông Dâu và sông Thiên Đức, phối hợp với Đoàn Thánh Dực phòng ngự huyện Siêu Loại.

Tiểu đoàn Thiết xa do Ngô Kình Ngư chỉ huy, cùng các xe Liên nỗ phóng lao và thiết giáp, đều đóng quân ở huyện Siêu Loại. Theo nhận định của Bộ Tổng Tham mưu, Siêu Loại sẽ là chiến trường khốc liệt nhất.

Quân đồn trú ở Hiến Doanh không tham gia chiến dịch, chỉ chuyên phòng ngự trong trường hợp Cao Mộc Viễn tiến đánh.

Mặc dù quân Tế Giang đề cao cảnh giác, nhưng ngay khi trung quân vượt sông đầy đủ, Lý An và Phạm Cự Lượng thúc quân tiến nhanh chóng. Lợi dụng địa hình và đêm tối, họ luồn qua giữa hai trại quân tiền phương của quân Tế Giang, rồi dàn quân nằm phục.

Quân cánh tả và cánh hữu đi sau khoảng hơn một khắc, tiếp cận gần hai trại quân, rồi bất thần tràn vào sau tiếng súng lệnh. Quân Tế Giang trong mỗi trại có khoảng ba trăm quân, bị tấn công bất ngờ, không kịp phản ứng. Họ bị bắt sống gần như toàn bộ; thiệt mạng hơn chục quân cảnh giới đang đánh trống mà thôi. Hậu quân Thiên Đức sau đó đến áp giải về.

Bởi quân Thiên Đức chọn thời điểm giao thoa giữa năm cũ và năm mới, lại bắt gọn hai trại tiền phương, không kịp khua trống chiêng báo động. Do đó, hai trại ở sâu trong nội địa, mỗi trại khoảng năm trăm quân, cũng bị vây đánh bất ngờ. Quân sĩ chỉ kịp khua lớn vài nhịp trống trước khi bị hạ. Bảy phần quân ở hai trại này bị bắt, ba phần bị hạ do bỏ chạy.

Tiếng trống khua bỗng dứt nhịp một cách đột ngột, dân binh ở mấy làng gần trại quân thấy lạ nên chú ý. Nghe tiếng đì đùng, đoán là quân Thiên Đức tràn sang, họ bèn khua chiêng gióng trống báo động cho nhau. Làng nào nghe được chiêng khua cũng đóng chặt cổng, đèn đuốc tắt ngúm cả, ngay cả chó cũng bị bịt mõm không cho sủa vì sợ quân vào làng.

La Đình Đệ và La Đình Kính biết tin quân Thiên Đức tràn sang liền dẫn quân bản bộ ra đóng giữ ở nơi hiểm yếu lúc trời tờ mờ sáng.

Khi trời sáng rõ mặt người, trong không khí lạnh và sương mù phảng phất của buổi sáng đầu năm mới, Phạm Cự Lượng dàn quân, trong khi La Đình Đệ ở phía đối diện. La Đình Đệ đóng quân trên một gò nổi giữa đồng, nối liền với rặng tre gai của một ngôi làng. Cờ xí rợp trời, tiếng trống thúc vang liên hồi như sấm động. Trước mặt gò nổi nơi La Đình Đệ đóng quân là hào nước rộng khoảng 4 trượng.

Lý An trèo lên hai chiếc thang đấu hình chữ A, cao hơn một trượng để nhìn ngắm địa thế. Phạm Cự Lượng, Nghiêm Phúc Lý, Nguyễn Lạc Thổ cũng đều trèo lên ngọn thang để nhìn.

Các chỉ huy họp nhanh ngay trước trận địa. Bản họa đồ do Ty Thông tin cung cấp được trải ngay dưới cỏ. Lý An hỏi:

-Các cậu có thấy cờ của Kính không?

Tất cả đều lắc đầu.

Lý An chỉ ngôi làng có lũy tre xanh rì trong sương sớm, nằm ở phía tả, rồi nói:

-La Đình Đệ là Soái mà chỉ nắm chưa đến ba nghìn quân. Nhìn cờ quạt lộn xộn, các cậu nhìn y phục quân của ông ta thấy gì?

Nghiêm Phúc Lý đáp:

-Thưa Tham mưu Lý đại nhân, có thể nào là do chúng ta đánh bất ngờ nên La Đình Đệ chưa kịp bố phòng chặt chẽ, dẫn đến bố trí quân xộc xệch không ạ?

Lạc Thổ không đồng ý bèn nói:

-Tôi thấy không đúng. Ông ta là Soái một quân, đứng trên vạn người, dù có gấp gáp cũng không thể bố trí lộn xộn đến mức chúng ta nhìn ra được. Ắt hẳn đằng sau phải có mưu kế.

Phạm Cự Lượng xem bản đồ hồi lâu, bây giờ mới hỏi chung chung:

-Trên họa đồ không thấy có con mương này, nó mới được đào ư?

Lý An giải đáp:

-Bản họa đồ này đã gần hai chục năm. Lần trước ta qua chỗ này, nó chỉ là một rãnh nước nông. Có thể quân Tế Giang đã nạo vét và đào rộng, cắm chông nhọn. Mà sao không cậu nào trả lời câu hỏi ban nãy của ta?

Bấy giờ mọi người mới nhìn nhau rồi nhìn về phía xa. Hoàng Như Hổ đứng hầu phía sau Lý An bỗng lên tiếng:

-Dạ bẩm Lý đại nhân, cho phép con phát biểu được không ạ?

Lý An quay lại nhìn, với thoáng chút ngạc nhiên. Phạm Cự Lượng và những người khác hỏi:

-Môn đệ của Lý đại nhân ư?

Lý An cười:

-Ta chưa có diễm phúc ấy. Chàng trai này là Hoàng Như Hổ, ngư phủ ở Kim Động. Cậu ta vừa hoàn thành nhiệm vụ mà Vương giao phó, và Vương bảo cậu ta theo hầu lão già này. Cậu ta một mực xin theo, dù Vương đã cho phép nghỉ đến mùng 5.

Phạm Cự Lượng và những người khác đến gần Hoàng Như Hổ. Cự Lượng vỗ vai Như Hổ, hất hàm bảo:

-Nếu Vương cho cậu theo hầu Lý đại nhân, thì chắc chắn cậu phải là người có cơ mưu. Nếu cậu thích đao kiếm, ắt hẳn Vương đã giao cậu cho ta r���i. Cậu hãy trả lời câu hỏi của Lý đại nhân xem có giống như ta nghĩ không nào.

Lý An cười khích lệ, Như Hổ nói:

-Dạ bẩm đại nhân, ông La Đình Đệ là Soái mà quân xếp đặt lộn xộn hẳn là cố tình để ta không rõ thực hư. Y phục ba quân không đồng nhất, nhưng tướng mạo của quân đều trẻ khỏe chứ không phải dân binh. Tiểu sinh đoán ông ta muốn đặt bẫy gì đó. Bẫy thì chắc là có, nhưng mục đích đặt bẫy nhằm kéo dài thời gian khiến ta trù trừ hay muốn ta khinh địch mà tràn lên?

Phạm Cự Lượng nhảy phốc sang bên cạnh Như Hổ, huých nhẹ, tươi cười nói:

-Lông măng chưa mọc hết mà con mắt tinh tường đấy, bảo sao Vạn Thắng vương lại để ý đến cậu. Ai tiến cử cậu với Vương?

-Dạ bẩm, tiểu sinh vốn là thuộc hạ lo chép sách của chủ tướng thủy quân Yết Kiêu đại nhân.

Cự Lượng quay ra nói với Lạc Thổ và những người khác:

-Này các anh, các anh cũng phải tìm ra những người như cậu này để làm mưu sĩ mới được. Vương đã nhìn trúng cậu ta. Lời cậu ta rất đúng, La Đình Đệ muốn câu giờ hay muốn ta khinh địch mà tràn lên.

Hoàng Như Hổ thẹn đỏ mặt vì mấy người cùng đến nhìn tận mặt cậu, như thể cậu là một vật gì đó lạ lùng. Nguyễn Lạc Thổ bảo:

-Cậu đã nghĩ được đến đó thì cậu nói nốt ra xem sao. À, để bọn ta cùng hội ý xem ý của bọn ta có giống của cậu không.

Lạc Thổ và những người khác thì thào với nhau, sau mới quay lại nghe Như Hổ nêu ý kiến:

-Bẩm các tướng quân, tiểu nhân cho rằng La Đình Đệ muốn dụ chúng ta đánh. Cái làng kia rất lạ, tiểu sinh đồ rằng có quân binh mai phục trong làng ấy và cả phía sau làng. La Đình Đệ dụ ta tràn sang, sau đó quân trong làng túa ra đánh vào bên hông.

Phạm Cự Lượng nói với Lý An:

-Lý đại nhân, ngài nên bồi dưỡng cậu ta thêm, nên cho cậu ta học trong trường và đi theo quân thực địa.

Lý An cười mà rằng:

-Kế của La Đình Đệ bị một cậu thư sinh lần đầu ra trận nhìn thấu thì còn đánh đấm gì nữa. Ta từng nói với Hoàng Thái Công, bây giờ ta xin nói lại, ta thực sự sai lầm khi trước nay đã đề cao anh em nhà họ La. Họ không yếu, nhưng thiếu mưu sâu.

Cả bọn nghe vậy liền cười phá lên. Như Hổ biết mình vừa nghĩ giống những vị chỉ huy, bất giác trong lòng cũng thấy vui mừng.

-Cậu sắp cưới vợ. - Lý An nói với Hổ. - Ta sẽ tâu việc này với Vương để trọng thưởng. Và nếu đúng như lời cậu nói, chàng trai ạ, cậu nhất định sẽ là một hiền tài mà quân đội cần có.

Phạm Cự Lượng bảo với Cao Lịch:

-Trời lạnh thế này, cậu xem làm cách nào để 'ủ ấm' cho mấy người trong làng chứ hả?

Cao Lịch nghe vậy, nở nụ cười gian xảo, hí hửng gọi quân pháo kéo hết lên trước trận địa. Quân hậu bị nhận lệnh mang thang đến gần, sẵn sàng cắm thang xuống hào nước để vượt lên gò cao.

Quân pháo kéo thần công và hỏa hổ gần đến bờ hào thì dừng lại ngoài tầm bắn của tiễn. Quân của La Đình Đệ nép mình sau dãy gò cao, cờ quạt vẫn bay phấp phới. Quân bộ binh đưa mười bộ vũ khí bắn pháo nhỏ mà xưởng quân khí mới bàn giao để thực nghiệm trên chiến trường.

Cao Lịch có hai mươi khẩu thần công. Sau khi căn chỉnh cẩn thận, chúng bắt đầu khai hỏa liền một lúc ba loạt đạn vọt qua ngọn tre. Hai mươi hỏa pháo liên hoàn, sau khi bắn đôi ba viên để đo khoảng cách, liền bắn một loạt đạn cháy vào mấy bụi tre gần cổng làng. La Đình Đệ cả kinh, biết mưu kế đã bị lộ. Trong khi đó, La Đình Kính núp bên trong làng cùng quân sĩ cũng hoang mang, không biết nên thoái hay án binh bất động.

Phạm Cự Lượng ra lệnh khai hỏa đồng loạt. Bấy giờ, hỏa pháo liên hoàn nhả liền hai loạt đạn, những khóm tre gần cổng ngôi làng bắt đầu cháy, khói mù mịt bốc lên.

Trong khi hỏa mai ngắm bắn sẵn lên gò cao thì mười bệ phóng đạn nổ loại nhỏ bắt đầu khai hỏa và tự động bắn hết một lượt mười hai quả đạn. Ngay cả những binh sĩ có trong tay khẩu hỏa mai cũng tròn mắt ngạc nhiên với loại vũ khí mới mà bảy phần nguyên liệu làm từ tre nứa. Những quả đạn nhỏ bay vọt qua gò rồi nổ luôn trên cao, khoảng từ một đến hai trượng so với mặt đất. Thương vong chẳng đáng kể, tính là không có ai vong mạng, nhưng trên đầu có hàng trăm tiếng nổ đoàng đoàng cùng những đụn khói nhỏ khiến quân Tế Giang thêm phần kinh sợ. Ấy là chưa kể, Phạm Cự Lượng cũng cho bắn vài chục quả đạn nổ gắn vào tiễn. Tiễn vọt qua đỉnh gò cao khoảng hai trượng mới nổ, và thứ quả nổ này khiến hàng trăm binh sĩ Tế Giang bị thương.

Trong báo cáo do Cự Lượng gửi sau trận đánh, Chương chú ý đến chi tiết quân Tế Giang bị thương bởi quả nổ nhồi bi. Ông đến thành Luy Lâu xem xét các vết thương của quân Tế Giang, hỏi họ bị thương trong tình huống như thế nào. Những câu trả lời giúp Chương có cách giải quyết vấn đề khi phải một chọi năm hoặc một chọi mười. Chỉ biết rằng, trong khoảng thời gian ngắn chưa đến nửa tháng, xưởng đúc đạn đã làm ra hàng vạn quả nổ nhỏ theo yêu cầu của Chương, mà không sản xuất thêm đạn tròn cho thần công.

Tại sao Vạn Thắng vương lại làm như vậy, phải một thời gian sau, xưởng đúc đạn mới vỡ lẽ.

Bản văn này được biên soạn bởi truyen.free, giữ nguyên chất lượng cao nhất cho độc giả.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free