(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 229: Tình thế cấp bách
Thay vì lo lắng khi nửa đêm gió thét mưa gào, Lý An, Trương Văn Long, Yết Kiêu lại tụ tập bên ánh lửa bập bùng, nhâm nhi chén trà và bàn tán xôn xao. Trương Văn Long nói:
“Vạn Thắng vương của chúng ta thật linh thiêng! Chẳng đến hai ngày, giữa lúc mưa lớn thế này mà Đại Thắng Hoàng hậu xuất binh, e rằng lành ít dữ nhiều. Làm sao có thể nhìn trời mà dự đoán mưa gió tài tình đến vậy?”
Yết Kiêu nói:
“Hồi bọn tôi đi đánh Phan Văn Hầu, Vương vừa thắp hương xong thì gió từ bốn phương tám hướng thổi đến tung cờ. Trận ấy chúng tôi đã đánh một trận ra trò.”
Lê Quý Ly thắc mắc:
“Vương của chúng ta có phải là đạo sĩ không nhỉ? Chỉ có đạo sĩ mới có thể hô mưa gọi gió, giống như lão đạo sĩ năm ngoái vậy.”
Cả bọn kể qua kể lại những sự lạ. Một hồi sau, Lý An mới lên tiếng:
“Ta nghe Tả Đô Đốc kể rằng ngày Vương đến làng Nhất Vạn, trời đang quang đãng bỗng sấm nổi chớp giật đánh vào cây đa bên miếu.”
Yết Kiêu và Phạm Bạch Hổ cùng khẳng định tận mắt nhìn thấy. Yết Kiêu kể rằng, làng Nhất Vạn đã được lập ở chân núi hơn chục năm nay, chỉ để chờ đợi một người. Sau mỗi đêm mưa gió bão bùng, trai tráng trong làng lại tỏa đi tìm người, mà chẳng rõ phải tìm ai. Hồi Vương mới đến, Tả Đô Đốc phải lập mưu mời ông làm mưu sĩ, rồi đưa đẩy trở thành chủ tướng.
“Chủ tướng bình sinh không muốn giao chiến, chỉ thích yên bình, như các ông cũng biết đấy.” Yết Kiêu chép miệng. “Ông ấy yêu thương đám trẻ nhỏ lắm, nhờ thế mà phủ Thiên Đức cũ mới được như ngày nay.”
Đoạn Lý An hỏi:
“Nhưng sao Tả Đô Đốc phải dựng làng ở đó? Ta nhớ Tả Đô Đốc quê ở trấn Hải Đông.”
Phạm Bạch Hổ đáp:
“Thưa Tổng Tư lệnh, hồi làng chuyển đến thì chúng tôi còn nhỏ nên không rõ đầu đuôi. Cha tôi từ quan là về thẳng đó ẩn mình, ngày đêm lo thao binh luyện mã. Chúng tôi thoáng nghe rằng phải ở đó chờ đợi một người đến để dựng lại cơ nghiệp nhà Lý, chấm dứt cảnh cát cứ.”
“Anh Hổ có biết Vương bao nhiêu tuổi không?”
“Thưa, hai mươi sáu ạ.”
Lý An thở dài:
“Ta càng lúc càng bất ngờ. Ngoài tài thao lược binh mã, Vương còn có nhiều ý tưởng trị nước an bang, giờ lại nhìn trời đoán bệnh được. Thật là không dám tin nhưng vẫn phải tin. Chẳng lẽ Vương là người trời thật sao?”
Yết Kiêu nói:
“Thiên tử là con trời, có lẽ vậy thưa Tổng Tư lệnh. Ngoài cách đó ra, ngay cả tôi cũng không lý giải nổi. Xưa kia tôi chỉ là một tráng đinh bình thường như Hổ đây. Vương đặt cho tôi tên là Yết Kiêu, bảo rằng ngày sau mỗi lần quân địch nghe tên tôi là kinh hãi. Lúc ấy tôi chẳng tin.���
“Ầy, hồi ta đối đầu với anh cũng hãi lắm.” Hoàng Thái Công nói. “Ngẫm lại tưởng gặp họa mà hóa ra lại may mắn. Giờ chúng ta chung hội, nhìn bọn Tế Giang, tôi thấy hình ảnh của chính mình lúc trước.”
Lý An chợt nhớ ra:
“Nói mới nhớ, mưa gió lớn thế này khiến nước sông dâng cao. Nếu không lường trước e là thuyền bè của chúng ta sẽ hư hại, chưa kể đến súng pháo. Các ngươi đảo một vòng nhắc anh em cẩn trọng, quân Tế Giang có thể thừa cơ đột kích. Bọn họ nhiều người là ngư phủ, thạo sông nước hơn ta. Vương đã dặn chỉ phòng thủ chứ không tấn công, các ngươi hãy ghi nhớ.”
Lý An vừa dứt lời bỗng nghe có tiếng súng lác đác nổ ở mé đằng Nam. Tất cả vớ lấy áo tơi, đội nón lá chạy ra khỏi lều. Lát sau, binh sĩ chạy đến báo cáo:
“Báo cáo Tổng Tư lệnh! Quân Tế Giang đã lợi dụng đêm tối, trời mưa, dùng thuyền nhỏ luồn lách qua lau sậy định tập kích vào trại tiền quân nhưng đã bị đẩy lui. Chúng tôi thu nhặt được một thuyền với năm xác, sáu kẻ bị thương. Số còn lại nhanh chân lẩn vào màn đêm, anh em không truy kích.”
“Tốt! Những kẻ bị thương hãy cứu chữa và moi thông tin từ chúng. Ghi lại công lao của anh em, sau ta sẽ trình lên Vạn Thắng vương ban thưởng.”
Binh sĩ đi rồi, Lý An nói với tả hữu:
“Vương dự liệu như thần. Sáng sớm mai, chúng ta phải cắt cử quân thăm dò rộng ra. Trời mưa lớn không dùng được hỏa công, bọn chúng hẳn biết điều ấy nên mới tính kế như vậy.”
Phạm Cự Lượng vừa đến, nghe xong đầu đuôi câu chuyện liền nói:
“Nếu mưa kéo dài, chúng ta phải dựa vào hỏa lực của bốn ngàn tay thiện xạ, chứ thần công bắn đạn tròn sẽ không ăn thua.”
Cả bọn kéo nhau vào lều. Cự Lượng vẽ vài nét trên bảng rồi nói:
“Địa hình phía trước bằng phẳng nhưng có gò đống, bụi cây và nhiều ngòi nhỏ. Chúng ta phải chuẩn bị phương án đối phó khi quân Tế Giang chia thành các nhóm nhỏ tiếp cận.”
Bạch Hổ nói:
“Quân của tôi hiện có năm trăm quả nổ loại mới, chỗ anh Yết Kiêu cũng chừng ấy phòng thân. Nếu ta cho tinh binh chia thành nhóm ba đến năm người như Vương từng dùng, liệu có khả thi không?”
Lý An hỏi kỹ cách dùng quả nổ do ông chưa được tận mắt thấy dùng trong giao chiến. Bạch Hổ giảng giải chung cho mọi người, và rằng chỉ có Tiểu đoàn Thần Vũ mới được trang bị đầy đủ. Gần đây, Vạn Thắng vương còn trang bị cho mỗi pháo thủ một quả để phòng thân khi nguy nan hoặc khi gấp rút buộc phải phá hủy thần công.
“Thứ này quá lợi hại, sao Vương lại không cho chế tạo nhiều nhỉ?” Lý An thắc mắc.
“Thưa Tổng Tư lệnh, đó là vì Vương không muốn sát hại nhiều sinh linh. Nếu thứ này rơi vào tay đối phương, e rằng chúng ta sẽ diệt vong cả.”
Lý An chép miệng:
“Nhân từ cũng không hẳn là tốt, nhưng... quả thật không nên để người Vạn Xuân tàn sát lẫn nhau đến diệt tận. Thế nhưng trước tình hình này, sáng sớm mai cần xin thêm một ngàn quả nổ để dùng cho việc phòng thủ.”
Lý An đứng lên chỉ tay vào bảng:
“Chia thành các nhóm năm người, tính từ tiền trại mà ẩn nấp hình quạt xòe, cách khoảng năm đến bảy chục trượng. Trong trường hợp phát hiện đối phương chia quân đánh đến, hãy dùng quả nổ để đánh lui chúng, chờ khi hết mưa.”
Tất cả nhất trí. Sáng hôm sau, Lý An gửi tin về. Chiều muộn, khi trời vừa ngớt mưa, nước sông hãy còn chảy xiết. Có năm thuyền lớn chở đồ tiếp vận sang sông. Ngoài cơm nóng, canh ngọt, khoai luộc, ngô luộc thì bọn Lý An còn nhận hai ngàn quả nổ với mệnh lệnh thu hút thêm quân Tế Giang vào bẫy.
“Mưa tạnh chiều ngày kia, ông chủ đi mua gạo.”
Lý An đưa thư có dấu mộc cho bọn Cự Lượng xem. Vỏn vẹn không đến chục dòng, câu cuối như đã nói ở trên.
“Vậy là chiều ngày 19, đích thân Vương sẽ dẫn binh đi sao?” Cự Lượng ngạc nhiên.
Lý An nói:
“Cậu Dũng có bảo, lúc làm lễ xuất chinh, chiếc Xa Hải 26 bỗng nhiên gãy cột buồm có treo kỳ hiệu.”
Cả bọn lại bàn luận một hồi và chỉ ngưng khi nghe vài tiếng súng nổ thưa thớt từ xa vọng lại.
La Lệnh công La Tá Phi vốn là người cao lớn, sáng dạ, văn võ song toàn. Ông sinh ra trong một gia đình hào trưởng giàu có ở làng Bến Sắn, giáp Văn Lâm. Cha ông là La Đại Liệu, giàu có nhờ việc thu mua sắt vụn, đồng và bạc tái chế. Thời Lý Nam Vương dấy binh, La Đại Liệu khi ấy đã lục tuần, chiêu mộ tráng đinh trong vùng được nghìn người, cùng La Tá Phi dẫn quân theo Lý Nam Vương. Sau khi cha chết, La Tá Phi nối nghiệp cha làm tướng trấn giữ đất Tế Giang. Gặp thời loạn, thế lực của La Tá Phi nổi lên. Ông xưng Lệnh công và trở thành sứ quân cai quản vùng này giống như Lý Lệnh công trấn giữ bên Siêu Loại và Nguyễn Lôi Vũ (anh em nhà Vũ Ninh vương) giữ Đông Phù Liệt bên kia Xích Giang.
Tế Giang là vùng chiêm trũng, sông ngòi quanh co, bùn lầy. La Lệnh công chia quân trấn giữ những nơi hiểm yếu, chờ thời cơ. So với Lý Lệnh công an phận thủ thường, La Lệnh công đã nhiều lần động binh giao chiến với các lân bang, có thắng có thua.
Về địa thế đất Tế Giang, phía Bắc giáp sông Văn Giang, phía Đông giáp Xích Giang, Đông Nam giáp Đằng Châu, thuộc quyền Sứ quân Phạm Khải Ca. Phía Nam - Tây Nam và Tây giáp với trấn Hải Đông, một dải đất dài thưa người, thông ra biển lớn.
La Lệnh công La Tá Phi cai quản hai mươi hai vạn dân, số lượng vượt trội so với Trần Minh công và Phạm Lệnh công. Con trai trưởng của La Lệnh công là La Đình Đệ, bốn mươi bốn tuổi, giữ chức Soái tướng nắm binh quyền. Con thứ La Đình Kính là Hữu Tướng quân, còn Tả Tướng quân là con trai út La Đình Độ. Thủy binh do Cao Mộc Viễn, bốn mươi chín tuổi, cháu vợ La Lệnh công nắm giữ. Bùi Quang Dũng, bốn mươi hai tuổi, em ruột của vợ lẽ, cầm quân kỵ binh.
Do đặc thù nhiều sông ngòi, La Lệnh công có đến một vạn thủy quân, quân bộ có sáu ngàn, kỵ binh hơn bốn ngàn. Trong trường hợp nguy khốn, La Lệnh công tổng động viên sẽ có khoảng ba vạn quân.
Bấy lâu nay La Lệnh công biết vùng Siêu Loại có chiến loạn, ông lấy làm mừng, dặn con cháu để tâm dò xét, thừa nước đục thả câu. Ngay khi Mậu Quốc Thìn cắt đất xưng thần, La Lệnh công và tướng sĩ đã sẵn sàng vượt sông tiếp ứng nhưng mọi sự diễn ra quá mau lẹ. Chẳng ai ngờ được rằng Lý Lệnh công lại mất làng Thư Đôi chỉ trong bảy ngày. Theo tính toán của La Đình Kính hay Cao Mộc Viễn, nhanh nhất cũng phải một tháng may ra Thư Đôi mới thất thủ. Bởi thế, quân Tế Giang muốn chờ thêm, hòng để hai bên thương vong rồi mới vượt sang đánh chiếm.
Buổi sớm khi Lý Lệnh công và gia quyến tìm sang cầu cứu, La Lệnh công đã biết là đã muộn. Kẻ địch quá mạnh, như lời Lý Lệnh công nói, Thư Đôi chỉ còn cầm cự được tính bằng giờ.
Khi giao chiến với quân Thiên Đức – đội quân mà vài năm trước chẳng ai để vào mắt, chỉ coi là đám giặc cỏ ô hợp – La Lệnh công đã biết mình nguy đến nơi. Tin tức xấu báo về liên tục, và rằng những vũ khí mới chế tạo theo lời mách của cha con họ Mậu chỉ như trò trẻ con đối với quân Thiên Đức, trong khi thứ vũ khí mà quân Thiên Đức sử dụng lại gây kinh sợ đúng như lời đồn.
Quân Thiên Đức có pháo dập súng dồn, dọn bãi đổ bộ mà không thiệt binh tốt, điều đó thực sự gây kinh ngạc cho La Lệnh công và bộ tướng. La Đình Kính báo tình hình. La Lệnh Công đồng thuận cho rút quân từ các nơi khác về, đồng thời thảo thư sang Đằng Châu và Hải Đông đề nghị cùng đánh Thiên Đức. Trần Minh công hẹn mười ngày nữa mới hồi đáp. Phạm Lệnh công chỉ đồng ý không động binh với Tế Giang mà thôi.
Bấy giờ, La Lệnh công mới thấu hiểu tác dụng của việc Thiên Đức dăm lần bảy lượt gây sự với Lý Lệnh công. Ấy chính là để tạo lý do chính đáng để động binh.
Mưa to gió lớn đổ đến bất ngờ khiến quân Tế Giang không kịp phòng bị, thuyền nhỏ bị lật, thuyền lớn gãy cột buồm. Tuy thiệt hại không đáng kể nhưng buộc phải chuyển quân về phía sau.
La Đình Kính gom hết quân mặt Nam, cắt bớt quân ở mặt Đông dồn về hướng Bắc chống Thiên Đức. Mậu Quốc Tỵ mách rằng trước đây, khi chống pháo của quân Thiên Đức, Lý Sứ tướng, Phan Sứ tướng và Nguyễn Sứ tướng đã chọn cách tản quân thay vì tập trung thành đội hình lớn. Đối với thứ vũ khí bắn thẳng của Thiên Đức, nếu dùng khiên gỗ bọc sắt, đồng kết thành từng khối thì có thể chống đỡ được.
Mậu Quốc Tỵ nói:
“Mỗi khi bọn họ khai hỏa xong, cần có một quãng thời gian nghỉ trước khi khai hỏa lượt kế tiếp. Nếu dùng kỵ binh tràn lên với số đông cùng bộ binh, ắt sẽ đẩy lui được chúng.”
La Đình Kính hỏi lại:
“Còn thứ vũ khí bắn ra lửa thì sao?”
“Thứ ấy chỉ có nước mới dập được. Họ thường khai hỏa ở tầm gần, trong khoảng mươi trượng đổ lại. Bọn họ cũng có một thứ quả nổ song ít thấy dùng. Tôi không biết đó là thứ gì, chỉ nghe sĩ tốt nói lại mà thôi.”
Bấy giờ Thủy Sư Đô đốc Cao Mộc Viễn mới nói:
“Chỉ còn cách chia thành từng nhóm quân nhỏ tập kích, có vậy mới hạn chế được thương vong. Còn như dàn quân đánh trực diện ắt phải có số lượng vượt trội mới được. Lão Lý An bây giờ trở cờ làm tay sai cho chúng, thực sự không biết xấu hổ. Kẻ tự xưng Vạn Thắng vương kia tài trí đến mức nào mà lại thu phục được lão ta chứ?”
“Bẩm ngài.” Mậu Quốc Tỵ nói. “Nghĩa nữ của Lý Sứ tướng Lý An chẳng hiểu bằng cách nào lại trở thành thê thiếp của Vạn Thắng vương. Mạt tướng được biết, Vạn Thắng vương vô cùng yêu chiều cô gái ấy, và Lý Sứ tướng cũng thế. Có thể vì thế mà họ chung chiến tuyến.”
“Ta thực nghi ngờ rằng sau lưng Vạn Thắng vương chính là Tả Đô đốc tiền triều chống lưng cho hắn. Hắn còn trẻ như vậy không thể nào thống lĩnh ba quân thiện nghệ đến thế được.” Cao Mộc Viễn nói. “Chúng ta cũng nên đề nghị Nguyễn Quốc Khánh cùng đánh, để quân Thiên Đức không thể cùng lúc chống đỡ hai phía.”
Mậu Quốc Thìn lại kể chuyện cũ, và rằng hiện tại Vũ Ninh vương chưa muốn động binh.
“Các ngài có nghĩ đến việc kết liên minh với bên Đông Phù Liệt ch��a? Mạt tướng cho rằng điều đó rất khả thi.”
La Đình Kính nói:
“Họ chẳng được lợi gì trong chuyện này, tuy nhiên chúng ta có thể thử. Ta sẽ sai sứ sang đề nghị xem sao. Có điều, bọn họ sẽ phải đánh một vòng xuống hạ lưu Xích Giang chứ không thể đi thẳng sang Siêu Loại được.”
Sau khi bàn bạc nát nước, bọn La Đình Kính chỉ còn cách chia nhỏ quân để đánh quấy phá, dụ quân Thiên Đức vào sâu trong nội địa, sau đó dùng đại quân đối chiến. Một cánh khác sẽ đánh vào đường tiếp vận trên sông hoặc chia cắt đại quân Thiên Đức với thủy quân dưới sông Văn Giang.
Kế hoạch của bọn La Đình Kính khá tốt, chỉ có điều quân Thiên Đức có chịu tiến sâu vào hay không? Muốn biết, chỉ còn cách thử mà thôi.
La Đình Kính chia năm mươi quân thủy và bộ thành một toán, lợi dụng sự quen thuộc địa thế, quyết tâm tiếp cận quân Thiên Đức quấy phá, đặc biệt vào ban đêm.
Có một điều mà La Đình Kính cùng bộ tướng không tính đến, ấy là quân của họ đông, phần đa là tinh binh khỏe mạnh, thạo nghề sông nước. Quân Thiên Đức ít hơn, nhưng nòng cốt là quân Thiên Đức cũ. Tính đến thời điểm này, họ đã chinh chiến gần sáu năm trời nên vô cùng thiện chiến. Chưa kể, quân Siêu Loại cũ cũng đã phải đối chiến với Thiên Đức trong hai năm gần đây. Sau khi sáp nhập làm một, quân tinh nhuệ được giữ lại, quân yếu cho về làm ruộng hoặc phụ trợ phía sau. Với lực lượng tương đương, nếu không có hỏa khí thì hai bên kẻ tám lạng người nửa cân. Nhưng mưu kế cũng đành bó tay khi hỏa khí cất tiếng.
Thực địa chứng minh điều ấy.
Quân Thiên Đức dùng vịt, ngan, chó cỏ để cảnh giới, cùng với các nhóm năm người. Mỗi nhóm sẽ chọn địa thế phù hợp để canh phòng ngày đêm. Họ trải rơm ngủ, dùng áo tơi bện rơm che chắn, rồi lấy áo khoác làm chăn, gối. Đêm xuống, vịt ngan kêu ở hướng nào, chó sủa về đâu thì một quả nổ sẽ được tung về hướng ấy. Chục giây sau, lại thêm một quả khác. Quân Tế Giang vùng chạy dưới trăng khuya, bóng in trên nền trời liền trở thành bia sống cho những tay thiện xạ. Trúng hay trượt nào ai hay vì mục đích của quân Thiên Đức là gây kinh sợ cho đối phương.
Yết Kiêu thạo sông nước, việc cảnh giới dưới các sông ngòi nhỏ nhiều lau sậy cũng không hề gặp khó khăn. Các toán quân Tế Giang dùng bè tre nhỏ luồn lách cũng chẳng ăn thua. Đặc biệt, có trường hợp hàng chục binh sĩ bị toán quân của Yết Kiêu phục kích ngược, từ dưới nước bất ngờ trồi lên kéo xuống bắt sống để khai thác tin tức.
Để tránh La Đình Kính sinh nghi, mỗi ngày Lý An lại cho trại tiến thêm gần trăm trượng.
Sau hai đêm thấy không hiệu quả, quân sĩ bắt đầu có kẻ nao núng. La Đình Kính đang tính kế chế ngự đám chó canh và bầy vịt ngan thì bỗng chính Ngọ ngày 20, ông nhận tin dữ, thần hồn điên đảo.
Bản văn này thuộc về truyen.free, với mọi quyền được bảo lưu.