(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 142: Máu thịt phương xa
Đoàn thương thuyền Lâm gia loan tin bị quân Thiên Đức đốt mất ba chiếc, quyết định đến Thiên Đức để phân định phải trái, đòi bồi thường thiệt hại. Chẳng ai rõ Thiên Đức có thực sự đền bù hay không, kẻ nói có, người bảo không. Tuy nhiên, các thương nhân lại đồn rằng chủ tướng Thiên Đức đã gửi lời tạ lỗi đến Lâm lão gia, kèm theo cam kết sẽ mua nhiều hàng hóa hơn. Nhờ vậy, nhóm Cự Lượng đã an toàn trở về.
Không chỉ đạt được mục đích ban đầu, cuộc tập kích bất ngờ của Thiên Đức còn mang lại một kết quả ngoài mong đợi, làm thay đổi cuộc sống của gần nghìn người, cả lớn lẫn bé, tại một doanh nhỏ nằm ở vùng phên dậu giữa Vũ Ninh vương và Quảng Trí quân.
Quân doanh này do Vương Bưu thống lĩnh, nên thường được gọi là trại Ông Bưu. Trại đã đóng quân hơn sáu năm trên một sườn đồi, quân sĩ đều có gốc gác từ Long Ngô Động, thôn Đường Vỹ, làng Môn và vài ba làng khác. Cách trại Ông Bưu hơn mười dặm về phía Tây còn có một trại khác, nơi đóng quân của hơn trăm binh sĩ quê từ các làng ở bờ Nam sông Thiên Đức.
Như đã nói, để đề phòng bất trắc, Vũ Ninh vương đã điều chuyển quân.
Trong trại Ông Bưu, Ngô Lăng, thân phụ của Nguyệt, lo việc bếp núc, còn Ngô Kình Ngư, con trai Ngô Lăng tuổi đã ngót bốn mươi, làm đội trưởng một đội hơn ba mươi quân. Từ ngày bị bắt lính đưa về đây, Ngô Kình Ngư bặt tin tức về mẹ già và cô em gái nhỏ.
Kình Ngư lấy vợ được hơn ba năm, vợ Kình Ngư là người tộc Dao, đã sinh cho Kình Ngư đủ nếp đủ tẻ. Nhiều bản nhỏ gần quân doanh là nơi sinh sống của gia quyến các binh sĩ tha hương.
Hơn một năm trước, Kình Ngư nghe nói quân đội đã hai lần động binh đánh sang bờ Nam, lòng dạ bồn chồn không yên, lo mẹ già và em nhỏ khó lòng an toàn giữa nạn binh đao. Khi ấy, trong quân doanh nhốn nháo vì cả hai lần động binh đều thất bại, mất nhiều tướng lĩnh, đặc biệt là Hữu Tướng quân Dương Ngôn. Hàng trăm binh sĩ trong trại Vương Bưu tìm mọi cách dò la tin tức về cha mẹ, anh em ở bờ Nam, cách duy nhất là nhờ vợ hoặc người thân bên vợ hỏi thăm các thương nhân. Nhóm Kình Ngư vẫn đinh ninh nơi ấy thuộc quyền Lý Lệnh công. Bởi thế, khi nghe những tin đầu tiên về một Thiên Gia Bảo Hựu nào đó ở làng Vạn dựng cờ chống Kiều Công Ngạn, họ vẫn không rõ sự tình.
Thời gian trôi qua, họ nghe ngóng được nhiều tin tức hơn. Bởi lẽ, các thương nhân và thủy thủ thương tình những kẻ tha hương, đã lấy những chuyện tai nghe mắt thấy làm quà kể. Họ vừa bán được nhiều hàng hơn nhờ những câu chuyện ấy, vừa chứng kiến cảnh những người đàn ông vừa nghe vừa khóc.
Người ta kể, ở bờ Nam sông Thiên Đức bây giờ nổi lên quân Thiên Gia Bảo Hựu, dựng cờ tụ họp dân các làng, chẳng rõ quân số bao nhiêu nhưng đã hai lần đánh lui Kiều Công Ngạn. Đầu năm nay, lại nghe kể rằng nơi ấy mới nổi thêm quân Thiên Đức, cát cứ một vùng gần khu đầm lầy. Nhóm Kình Ngư nghe chuyện này mà lòng dạ như ngồi trên đống lửa, bởi đó chính là quê hương của họ.
Người ta bảo rằng quân Thiên Đức thu nhận dân bờ Bắc, cho họ định cư ở đâu không rõ. Làng Đường Vỹ, Long Ngô Động và mấy làng lân cận bây giờ nội bất xuất ngoại bất nhập nên tin tức không thể lọt ra ngoài, điều đó khiến nhóm Kình Ngư càng thêm lo lắng. Bởi lẽ, từ lúc bị bắt lính đến nay đã mười năm trời, khi họ rời đi làng mạc còn thưa thớt, lấy đâu ra binh mã đông đến vậy? Họ lo sợ những kẻ từ nơi khác đến chiếm cứ sẽ khiến cha mẹ ở quê nhà thêm phần cực khổ, lành ít dữ nhiều.
Kình Ngư và Ngô Lăng lo hơn cả khi một thủy thủ kể rằng ngôi nhà mái tranh ven sông, nằm rìa làng Đường Vỹ, nay có cắm kỳ hiệu lạ. Quân binh đi lại nườm nượp, nhiều lán nhỏ cũng được dựng thêm, nhưng thuyền bè qua lại đều bị cấm dừng, chỉ được tấp vào một nơi gọi là bến Huyết, gần Long Ngô Động. Nghe vậy, hai cha con Kình Ngư lặng lẽ lập ban thờ bởi chắc mẩm rằng mẹ già và em gái đã không còn nữa. Họ đành chấp nhận sự thật đau lòng ấy và chôn chặt vào trong lòng.
Nhiều binh sĩ muốn viết thư, nhờ thủy thủ gửi về bờ Nam, nhưng những người này cho biết quân Thiên Đức canh giữ dọc bờ sông rất nghiêm ngặt. Họ nói, việc buôn bán thì cứ lo buôn bán, còn nếu trao đổi thư từ hay dò hỏi chuyện trong làng ngoài xóm thì sẽ lập tức bị bắt đi đâu không rõ. Bởi thế, chẳng ai dám mạo hiểm.
Cận Tết, trời lạnh, nỗi nhớ nhà da diết khiến không khí trong trại có phần chùng xuống. Chẳng biết ma xui quỷ khiến thế nào, Kình Ngư quyết tìm đến người biết chữ trong bản, nhờ người này soạn cho một lá thư gửi chung cho làng Đường Vỹ. Trong thư, chàng ghi nỗi nhớ mong người mẹ và em gái nhỏ, cầu xin dân làng, nếu còn nhớ đến những người con vì thời cuộc mà phải xa xứ, hãy rủ lòng thắp nén hương thơm dịp đầu năm mới cho gia quyến những trai làng chưa hẹn ngày về. Lời lẽ vô cùng thống thiết, người đọc được hẳn sẽ phải rơi lệ.
Kình Ngư gói ghém lá thư cùng nửa tháng bổng lộc của mình, cầu xin một thủy thủ trên thuyền buôn đưa về làng Đường Vỹ hoặc Long Ngô Động, không cần phúc đáp. Người thủy thủ ban đầu không dám mạo hiểm nhưng Kình Ngư quỳ lạy, vái như tế sao, nước mắt ngắn dài, cuối cùng đã khiến người thủy thủ động lòng thương cảm mà nhận lời.
Biến cố bất ngờ xảy đến vào ngày 30 Tết, quân doanh Vương Bưu cấm trại vì tin thủy binh Thiên Đức đánh úp Quảng Trí quân. Quân lính trong trại nhốn nháo, liên tục bàn luận về sự biến này. Họ đều biết Thiên Đức giờ đây đã kiểm soát bờ Nam, thế lực ngày một mạnh lên. Còn vì sao Thiên Đức lại kéo quân lên tận Sơn Tây đánh rồi rút về thì chẳng ai rõ. Họ chỉ biết rằng quãng đường rất xa, tới cả hai trăm dặm chứ không ít.
Trại Vương Bưu được lệnh di chuyển hai mươi dặm về gần bờ Xích Giang đề phòng Sơn Tây vương cho quân tràn sang.
Cuối tháng Giêng, vợ Kình Ngư bế hai con đến trại quân thăm chồng, đem theo một lồng chim bồ câu với năm con làm quà.
Nói về người thủy thủ tốt bụng kia, anh ta đánh liều lên bờ, gặp một binh sĩ Thiên Đức đang canh ở bến Huyết, đưa bức thư. Anh ta cam đoan bản thân không phải gian tế, chỉ là vì thương tình người khác mà bạo gan làm vậy. Người thủy thủ này lập tức bị giữ lại sau khi chỉ huy nhóm binh sĩ canh giữ bờ sông đọc xong lá thư. Thậm chí anh ta còn bị trùm túi vải lên đầu khiêng đi đâu không rõ, sợ đến nỗi đũng quần ướt sũng.
Trong thư, Kình Ngư cắn rơm cắn cỏ nhờ dân Đường Vỹ thương tình thắp nén hương cho phần mộ của mẹ già là Bê, thường gọi Cả Ngư, và em gái Ngô Thị Nguyệt. Các binh sĩ không biết Nguyệt là ai, nhưng bà Cả Ngư lại là dưỡng mẫu của chủ tướng. Ở Đường Vỹ, chỉ có duy nhất bà cụ ấy mang cái tên như vậy.
Người thủy thủ được đưa đến gặp Chương. Chương hỏi rõ đầu đuôi sự tình, nghe xong nước mắt cứ thế tuôn rơi. Chương yêu cầu anh ta giữ bí mật. Sau đó, Chương tặng người thủy thủ một Tinh hoa ngũ hành thiết, dặn dò kỹ anh ta tuyệt đối không cho ai biết về vật này. Người thủy thủ vui mừng khôn xiết khi được gặp chủ tướng và được ban tặng một thứ quý giá đến vậy. Anh ta cử một nữ binh đi cùng đoàn thuyền buôn, giới thiệu là nương tử của mình. Nữ binh ấy đem theo năm bồ câu rời Thiên Đức và đã tìm gặp được vợ của Kình Ngư, bởi trại quân đã chuyển đi.
"-Anh phải giữ cẩn trọng những con chim này," cô gái đó dặn. "Nếu muốn chuyển tin gì về Thiên Đức thì tìm người tin cẩn viết, tuyệt đối không biên danh tính. Chim sẽ mang về."
"-Ồ! Họ muốn anh làm gian tế ư? Cô gái đó đâu?"
"-Sau khi gặp em, cô ấy đã rời đi ngay."
"-Lấy gì đảm bảo cô ta đáng tin chứ, lơ mơ là mất đầu như chơi đấy em à."
"-Cô ta nói rõ, mẫu thân của chúng ta chính là dưỡng mẫu của Vạn Thắng vương, chủ tướng Thiên Đức quân."
"-Làm gì có chuyện đó chứ, lòng người khó dò. Mẫu thân của ta sao có thể là dưỡng mẫu của cái Vạn Thắng vương gì đó được chứ. Đây có thể là gian kế."
Vợ Kình Ngư đưa ra hai miếng thép, nói nhỏ:
"-Thứ này nghe nói giống như một loại lệnh bài, em đã đưa cho phụ thân một cái, hai cái này là dành cho anh và em. Đây là lệnh bài của Vạn Thắng vương. Sau này nếu có gặp quân Thiên Đức, chỉ cần đưa ra là lập tức sẽ được nhận biết. Cô gái đó cũng cho hay, nếu em muốn thì họ sẽ tìm cách đưa em và hai con về Thiên Đức, chủ tướng của họ đã có lệnh như vậy rồi."
"-Có chuyện đó ư?"
"-Mẫu thân đã vớt được Vạn Thắng vương từ trên sông mấy năm trước. Căn nhà cũ nay đã trở thành nơi ở của chủ tướng, còn mẫu thân đã được dựng nhà mới trong làng. Tết vừa rồi, mẫu thân đã đi dạm ngõ cho chủ tướng của họ. Bởi vì anh đã biên trong thư có nhắc đến tên mẫu thân nên quân lính mới nhận ra. Cả mấy nghìn quân Thiên Đức đều coi mẫu thân của chúng ta là dưỡng mẫu."
"-Còn em gái ta? Họ nói sao?"
"-Cô Nguyệt là học trò đầu tiên của Vạn Thắng vương, ngay trong tháng này đã trở thành chính thất của một người tên Phạm Cự Lượng, nghe nói là người đứng đầu quân Thiên Đức."
"-Sao có chuyện tốt đó được? Sợ là gian tế."
Vợ Kình Ngư kể ra những dấu hiệu trên cơ thể Kình Ngư và vài chuyện xưa cũ, bao gồm cả chuyện gửi tiền về mấy năm trước khi quân đội đánh sang sông. Kình Ngư nghe xong mà toát mồ hôi, không tin không được, bấy giờ mới ôm mặt khóc.
"-Đúng là mẹ rồi, chính là mẹ anh rồi. Người ngoài không thể biết được những điều ấy. Mẹ ơi! Mẹ ơi! Anh muốn về nhà."
Chờ cơn xúc động qua đi, vợ Kình Ngư mới nói thêm:
"-Cô gái đó dặn dò rất cẩn thận, mẫu thân bây giờ là dưỡng mẫu của chủ tướng đối địch, nếu lộ ra sẽ mang họa lớn. Anh phải kín đáo cho các anh em cùng quê biết rõ sự tình, căn dặn họ yên lòng. Cha mẹ, anh em hay dòng tộc của chúng ta giờ đều là gia quyến của Thiên Đức, đều khỏe mạnh. Các anh em trong quân chưa thể về được ngay, nhưng họ sẽ tìm cách đưa vợ con về trước nếu muốn."
"-Sao họ có thể chứ? Đầu này đầu kia cách xa nghìn trùng."
"-Em không biết nữa, cô gái đó bảo sẽ quay lại gặp em vào giữa tháng tới. Mẫu thân và cô Nguyệt chưa biết tin này vì sợ họ sẽ thêm phần ngóng trông."
"-Chủ tướng của quân ấy bao nhiêu tuổi? Họ có nói không?"
"-Là nam nhân tuổi ngoài hai mươi, tên húy Mạc Thiên Chương. Vật này được gọi là Tinh hoa ngũ hành thiết, cô ấy dặn phải giữ bên mình làm vật tin, có thứ này mới đón được người, kể cả ngày sau có tìm cách trốn cũng phải đem theo."
Nghĩ đến em gái thành thân mà mình lại không có mặt, Kình Ngư lại ôm mặt khóc. Mãi sau, khi vợ an ủi, Kình Ngư mới dần cảm thấy yên lòng khi biết em gái được gả vào chỗ tốt và mẹ lại được phụng dưỡng.
Kình Ngư rỉ tai các binh sĩ đồng hương. Ai nghe tin quê nhà cũng rớt nước mắt, nhưng thực hư chẳng biết thế nào. Sau cùng, mấy trăm người bàn nhau. Một người biết dăm ba chữ được cử ra, ghi tên tất cả binh sĩ trong trại Vương Bưu. Hai chú chim bồ câu được tung lên cao vào một buổi sớm tinh sương từ trong quân doanh, mang theo bao nhiêu hy vọng. Chừng một tháng sau đó, mấy cô vợ của các binh sĩ cùng đến thăm chồng, mỗi người cũng đem theo năm chim bồ câu làm quà. Những chú chim được chăm sóc rất kỹ, bởi chúng là sợi dây vô hình kết nối hơn ba trăm người với quê hương xa cách nghìn trùng.
Phần lớn những người có tên trong thư đều được những cô gái lạ tìm đến tận nhà, nói rõ cha mẹ họ đang ở đâu, làm gì, ai còn ai mất, con em đã bao nhiêu tuổi... Khi nghe những điều này, thì chẳng ai còn nghi ngờ gì nữa. Quê hương giờ đã đổi thay, ruộng vườn của cha mẹ họ được Thiên Đức quân giúp sức cấy cày. Nhiều đứa em trai, em gái của các binh sĩ ấy đều đang ở trong quân Thiên Đức. Những đứa còn thò lò mũi xanh ngày nào, giờ đây cũng được đi học chữ, vài đứa được chọn vào trong quân làm nhiệm vụ bí mật.
Mấy tháng sau đó, quân tình trong vùng quanh trại Vương Bưu và một trại khác gần đó đều theo những cánh chim vượt ngàn trùng bay về Thiên Đức. Hàng chục binh sĩ đã được gặp em trai, em gái nay đã lớn tướng, bởi chúng chính là người đến đưa tin. Cá biệt, một vài người cha, người mẹ cũng theo thuyền buôn lên tận nơi gặp đích tôn, mừng mừng tủi tủi rồi lại theo thuyền trở về do không dám trái lệnh.
Tất cả những người đến đưa tin đều nhắc nhở các binh sĩ phải bền gan, dằn lòng lại. Mạc chủ tướng nhất định sẽ đến đón họ về cố hương trong một ngày không xa, bởi họ là một phần máu thịt của Thiên Đức. Chẳng ai biết vị chủ tướng ấy nhân dạng ra sao, song trong lòng ai nấy đều hàm ơn và cho rằng đó là một người đức độ.
Khi nghe tin quân Thiên ��ức bị vây khốn, nhiều binh sĩ kín đáo bàn nhau lập bàn thờ bái vọng về phương Nam, cầu mong ông trời phù hộ quân Thiên Đức vượt qua cơn sóng gió, lớn mạnh để họ sớm được hồi hương.
Mọi quyền lợi đối với bản chuyển ngữ này đều thuộc về truyen.free.