(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 134: Kế hoạch phiêu lưu
Phát kiến vòng bi (bạc đạn) đã mang lại rất nhiều lợi ích. Các ứng dụng này được Chương đưa vào xe rùa, xe bò kéo hay guồng đạp nước thay cho mái chèo, giúp tăng tốc độ cho chiến thuyền. Thực tế đã chứng minh, chiến thuyền căng buồm cộng thêm các guồng đạp thay cho trảo phu khiến tốc độ nhanh hơn gấp rưỡi so với thuyền thu được từ Lý An dù có kích cỡ tương đương. Bên cạnh đó, mỗi thuyền Mông Đồng sau khi cải tạo chỉ cần mười hai người đạp và một chỉ huy. Mỗi chiếc có thể chở ba mươi binh sĩ trang bị đầy đủ, và binh sĩ có thể luân phiên đạp.
Thuyền Xa Hải không được nâng cấp gì nhiều, ngoại trừ việc trang bị thêm các chủng loại đạn. Ngoài đạn đá, còn có đạn cầu chông được quấn bùi nhùi bằng vải vụn hoặc rơm tẩm dầu, nhằm đốt cháy chiến thuyền đối phương. Qua thực tế thủy chiến, Chương nhận ra đạn đá không thể làm chìm thuyền vì kích cỡ nhỏ, điều kiện bắn không ổn định, đạn thường tản mát. Vì vậy, dùng đạn cháy sẽ hiệu quả hơn nhiều. Tầm bắn của Nỏ Liên Châu cũng được tăng cường bằng cách tăng chiều dài mũi tên thêm mười phân và quấn thêm bùi nhùi vải tẩm dầu.
Chương vẫn canh cánh trong lòng về Lưỡng Phúc thuyền, con thuyền có thể chở hàng trăm quân cùng hai khẩu pháo nhẹ. Thuyền lớn sẽ cần rất nhiều tay chèo, điều mà Chương không mong muốn. Cậu nghĩ đến giải pháp làm tàu hơi nước, nhưng nồi hơi, trục khuỷu hay bánh răng lớn đều là những bộ phận cơ khí chính xác, mà nhân lực hiện tại chưa đủ khả năng chế tạo. Nếu làm được tàu thủy hơi nước, Chương sẽ làm được tàu hỏa, kế đó là chiến xa…
Nhưng tất cả các phát kiến ấy, theo Chương, đều cần đến vòng bi. Bất cứ thứ gì xoay tròn đều cần vòng bi, mà chất lượng vòng bi sắt hiện tại chưa tốt, dễ bị vỡ, sứt mẻ. Ý định chế tạo thép tốt hơn đã được thử nghiệm hơn hai tháng nay, nhưng thành phẩm vẫn chưa đạt yêu cầu. Uyển Như đã mua về rất nhiều sắt, đồng, và gần đây thêm nhiều than đá để phục vụ cho thử nghiệm lò luyện thép Bessemer. Sắt tốt sẽ làm ra kiếm tốt, giáp tốt, và tiến tới là tàu bọc sắt, rồi tàu hoàn toàn bằng sắt.
Chương đã có vòng bi lớn và thử nghiệm bằng cách làm guồng nước ven sông Thiên Đức. Yết Kiêu đã chọn được vài địa điểm, và việc dựng guồng theo bản vẽ mô tả diễn ra rất nhanh chóng, bởi điều mà Thiên Đức đang dồi dào chính là nhân lực.
Guồng nước làm từ tre nứa cao đến hai trượng đổ nước lên máng xối dẫn chảy vào hai rãnh mới đào song song với con đường đất bằng phẳng chạy đến tận chân núi, phục vụ việc tưới tiêu. Sau khi thử nghiệm hoàn chỉnh, Chương chỉ định Vương Khang phụ trách hoàn thiện các guồng nước còn lại trước Tết.
Chương cho làm đường ray bằng gỗ để thử nghiệm xe goòng ngựa kéo, nhằm giải phóng bớt sức người. Xe goòng được dự kiến dùng để vận chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa và sau này là nông sản từ núi ra bến sông. Siêu Loại là một vùng rộng lớn; ngựa kéo xe goòng sẽ di chuyển nhanh chóng, với đường ray bằng sắt, tạo sự cơ động giữa các vùng. Tất nhiên, những kế sách này chỉ có Thiên Bình, Duệ và cả Uyển Như nắm rõ. Những người khác chỉ biết phần việc được giao.
Với chiến xa hai ngựa kéo chở một nài ngựa và hai cung thủ sử dụng Nỏ Liên Châu, hai bên bánh xe được gắn liền trục một thanh sắt sáu cạnh vót nhọn, dài hơn một thước mỗi bên. Ngựa được bọc giáp chống tên. Chiến xa ngựa kéo dùng làm quân tiên phong xông thẳng vào đội hình địch quân, mở đường cho kỵ binh. Đối phương là kỵ binh hay bộ binh đều sẽ bị đánh ngã bởi hai thanh sắt sắc bén này.
Trương Lôi và Cự Lượng sau khi tập trận phối hợp đều báo cáo bằng văn bản để Chương đọc và góp ý. Chương không biết gì về binh pháp, nhưng cậu giúp giải quyết những vấn đề mà quân Thiên Đức cần. Duệ thường đọc trước và nhờ đó, cô nhanh chóng nắm bắt được cách hành binh.
Chương nói với các chỉ huy Thiên Đức về tầm quan trọng của thông tin và cách phối hợp. Dù là thủy chiến hay trận địa chiến, nguyên tắc vẫn là “tiền pháo hậu xung”. Pháo phải làm mềm chiến trường với khoảng bảy phần đạn, sau đó mới dùng đến tiễn, bộ binh hay thủy binh để giải quyết chiến trường. Bên cạnh đó, ưu tiên đánh thọc sườn, vu hồi bằng lực lượng kỵ binh nhỏ, nhanh. Hạn chế dàn trận đối đầu trực tiếp, bởi quân Thiên Đức không có ưu thế về quân số.
Trường hợp đổ bộ qua sông, cần phải thiết lập đầu cầu thì pháo thủy binh hoặc pháo bộ binh phải bắn trước để dọn đường, tránh bị mai phục.
Trong giao chiến hoặc mai phục, ưu tiên triệt hạ chỉ huy các cấp, hoặc những người thổi kèn, cầm cờ, đánh trống khua chiêng. Trong truy kích hoặc tấn công, dù quân số ít hơn hay địch núng thế, cũng cần chú ý tầm pháo bắn. Chỉ huy bộ binh hay thủy binh tự ý dẫn đội hình truy kích quá tầm pháo bắn một trăm trượng sẽ phải chịu tội. Nếu để mất pháo, nỏ Liên Châu sẽ bị giảo giam hậu, gia quyến liên lụy.
Các chỉ huy tự đề xuất hình thức khen thưởng và thống nhất từ trên xuống dưới. Tất cả hình thức khen thưởng phải bao gồm tiền, ngũ cốc hoặc vật phẩm tương đương.
Dân chúng tại vùng Thiên Đức kiểm soát, rồi đến Thiên Gia Bảo Hựu, dần biết đến những thứ mới lạ phục vụ cuộc sống của họ. Thiên Bình thông qua Thiên Đức hội quán đã quán triệt đến toàn thể nam phụ lão ấu trong vùng về việc đề cao cảnh giác, phòng gian bảo mật. Bảo vệ thành quả là điều cần thiết, vì nếu các phát kiến này bị đánh cắp thì các sứ quân sẽ tràn đến cướp phá. Bởi vậy, các thương nhân đến giao thương đều chỉ được ở các bến sông. Các guồng nước, ray gỗ hay nhiều phát kiến nhỏ khác được giao thẳng cho từng làng bảo quản, chăm sóc, bảo vệ không cho kẻ lạ đến gần. Nếu có biến cố, cả làng sẽ đánh động, và không quá một khắc, quân Thiên Đức sẽ đến trợ giúp.
Ban đầu, dân chúng ở vùng mới còn dè chừng khi Cự Lượng đóng trại, nhưng sau khoảng hai tháng, thấy quân Thiên Đức không quấy phá, họ liền thay đổi thái độ. Chỉ có binh sĩ hoặc nhân sĩ được cử đến để kể chuyện, tuyên truyền. Nông sản, nhu yếu ph��m nếu dân muốn bán cứ đem đến cổng trại, bán nhiều thì quân sẽ đến chở về, tiền bạc sòng phẳng rõ ràng. Những nông sản thu mua được hoặc dùng cho quân hoặc Lâm Uyển Như sẽ lo tiêu thụ.
Các bậc cao niên, cả ông lẫn bà, cùng các nho sĩ hay người có tiếng nói trong mỗi làng, được mời đi thăm những công trình mới lạ do quân Thiên Đức xây dựng để phục vụ bách tính. Xong xuôi, họ sẽ nói chuyện với các bô lão hoặc thăm những làng gần bản doanh Thiên Đức. Tiếp đó, nếu các làng ở vùng mới muốn được Thiên Đức quân giúp sức làm các công trình tưới tiêu, trồng những thứ sẽ bán cho Thiên Đức như ngô, khoai, sắn, đỗ..., thậm chí Thiên Đức sẵn sàng trả trước nửa tiền. Điều kiện không có gì khó: mỗi làng chỉ cần cử ra những người đủ uy tín gia nhập Thiên Đức hội, tuân theo quy định của hội cũng như góp sức bảo vệ những công trình được giao.
Ba đến năm làng sẽ có một trường học, trẻ con bắt buộc phải học. Ai học tốt sẽ có phần thưởng, và có thể được quân Thiên Đức trọng dụng.
Quyền lợi của các địa chủ ở những làng này vẫn được đảm bảo. Tuy nhiên, Chương đã từng triệu tập họp mặt tất cả bọn họ, ghi nhận ý kiến và sau đó đưa ra quy định về mức lương tối thiểu phải trả cho nô tì, gia nhân. Nghiêm cấm tuyệt đối việc mua bán nô lệ; ai vi phạm tội này sẽ bị tịch thu toàn bộ gia sản sung công.
Do số lượng quân sĩ Thiên Đức biết chữ Bụt đã lên đến vài trăm người (dù chưa phải ai cũng thành thạo), một loại giấy có ký hiệu riêng đã được cấp cho dân chúng khi ra hoặc vào vùng Thiên Đức kiểm soát. Việc sử dụng giấy không do Thiên Đức cấp, hoặc tự ý đi lại mà không trình báo, sẽ bị xem là gian tế. Phần lớn dân trong vùng mù chữ nên không biết các ký hiệu này. Quân Thiên Đức đã bắt được nhiều gian tế tìm cách trà trộn một cách dễ dàng. Nếu tên khai một đằng mà giấy ghi một nẻo, họ sẽ bị tống vào kho mà không cần giải thích. Nhưng nhập kho cũng không tệ, vì họ vẫn được ăn ba bữa, chỉ là làm lao động công ích ban ngày và ngủ trong nhà giam vào ban đêm. Vào thời điểm cao nhất trước khi đánh Siêu Loại, Thiên Đức có đến hơn hai trăm lao động dạng này.
Lý Đạo Thành đã bắt giữ hơn hai chục người vì cố gắng làm giả giấy tờ. Ông phải viết thư kể rõ sự tình và cam đoan rằng nếu muốn biết gì sẽ viết thư hỏi, không còn cho thám thính nữa, thì số gian tế đó mới được thả về. Sau đó, Lý Đạo Thành cử hai trăm người đến quân Thiên Đức trong ba tháng để học chữ của Bụt, rồi về tiến hành làm giấy đi đường hòng kiểm soát dân trong vùng. Lý Đạo Thành cũng manh nha thành lập Thiên Đức hội tại vùng Sơn Tây theo mô hình mà Thiên Bình đã làm. Đó là một trong những lý do Sơn Tây vương tuy ở xa nhưng lại ngả theo phe Thiên Bình.
Giữa tháng Chạp, Chương đang bận tối mặt thì nhận liền ba thư do bồ câu bay về báo quân tình ở Sơn Tây. Quảng Trí quân có ý động binh. Nhiều trại lớn nhỏ bắt đầu được dựng bên bờ Tây sông Đỏ. Một bồ câu khác đem theo tin Vũ Ninh vương chuyển trại thủy binh năm mươi dặm về hướng Bắc.
Ông Cả Lụa trở về từ kinh thành cùng đoàn thuyền chở nhu yếu phẩm chuẩn bị cho những ngày giáp Tết. Ông báo rằng một số trại quân nhỏ ở phía Bắc La thành, ước chừng bốn nghìn quân, đã nhổ trại trong đêm và không rõ đi đâu.
Chương triệu tập khẩn các cấp chỉ huy Lữ đoàn Thiên Đức về đại bản doanh. Thành phần tham gia gồm những người từ cấp Trung đội phó trở lên. Bỉnh Di, Quang Diệu, Xuân cũng được mời. Chương thông báo tình hình động binh của các sứ quân, và Cự Lượng bổ sung thêm một vài tin tức thu thập được từ vùng mới kiểm soát.
Chương nói ra nhận định của mình: ấy là cận Tết, chuẩn bị mùa cấy. Quảng Trí quân động binh đánh Sơn Tây vương, Tô Trung Từ lợi dụng tình thế ngư ông đắc lợi, bởi vậy mới không quay lại giao chiến. Vũ Ninh vương sẽ dùng thủy binh trợ chiến cho Quảng Trí quân.
– Chúng ta vẫn là một đội quân nhỏ bé, có được ít nhiều thành quả là nhờ nhiều yếu tố. Sơn Tây vương cả năm qua đều âm thầm ủng hộ lương thảo, Lý Thái sư lại có mối thâm tình với Tả Đô đốc. Thiên Đức vốn lấy ân báo ân, oán trả oán; nay họ bị ba mặt giáp công, tuy chắc chắn sẽ không bị tiêu diệt nhưng việc hao tổn nguyên khí là điều khó tránh. Bây giờ ta muốn các vị ở đây cùng bàn thảo hòng đưa ra phương sách trợ giúp họ lúc khẩn nguy. Đấy là vì tình vì nghĩa. Bên cạnh đó, chúng ta cần có đồng minh. Cổ nhân có câu nước xa không cứu được lửa gần, nhưng Vạn Xuân nay đang chia năm xẻ bảy, ta giúp họ ở xa cũng là giúp cho chính ta sau này.
Tất cả những người có mặt lập tức xôn xao, trong khi các vị khách dự khán vẫn ngồi lặng im. Bỉnh Di bất ngờ trước ý định của Chương, song không tiện hỏi.
– Bây giờ thế này, ta sẽ phát cho mọi người một tờ giấy nhỏ trong đó có ba lựa chọn: đánh, mặc kệ họ và ý kiến khác. Mọi người đánh dấu vào một lựa chọn rồi nộp lại, chọn lựa nào nhiều thì chúng ta theo cái đó. Không ai được hỏi ý kiến của người bên cạnh.
Phiếu được phát ra rồi thu lại, khi kiểm đếm, tất cả đều chọn "đánh".
– Tiếp theo là phần rút thăm may mắn. Trong cái hộp này có giấy màu đỏ và giấy màu trắng. Ai gắp được thăm đỏ thì đi, ai gắp thăm trắng phải ở nhà.
– Thưa chủ tướng, sao chúng ta không kéo đi hết?
Nghiêm Phúc Lý giơ tay hỏi, những người khác cũng nhao nhao.
– Hôm trước anh Cự Lượng thiệt thòi vì làm nghi binh, đợt rồi anh Cự Lượng công đầu cùng ông Trương Lôi, thế là hòa. Giờ ai may mắn được đi thì lần sau nhường cho anh em còn lại. Cụ thể ta sẽ nói sau khi rút thăm.
Người nọ đùn đẩy người kia rút trước, và hả hê khi thấy tờ giấy trắng. Có người còn chắp tay niệm Phật xin cho giấy đỏ vì ăn ở phúc đức từ bé nhưng vẫn ra giấy trắng. Cự Lượng vớ được giấy đỏ thì dương dương tự đắc, cho rằng bản thân ở hiền gặp lành nên được trời độ.
Yết Kiêu không được bắt thăm vì nắm thủy binh.
Trương Lôi cũng rút được giấy đỏ, nhưng Lý Văn Ba nài nỉ nên anh đành đổi cho. Vài người khác cũng tìm cách nài nỉ xin đổi thăm bằng rượu, thịt hoặc bất cứ thứ gì khác. Thậm chí có người còn xin đi đánh hộ, với lời hứa nếu lập được công trạng thì tất cả đều thuộc về người chủ thăm.
Bỉnh Di chứng kiến cảnh này thì lắc đầu ngán ngẩm.
– Chúng ta hiện nay có hai mươi ba thuyền Mông Đồng, chở được bảy trăm tinh binh. Chín thuyền Xa Hải chở kèm thêm một trăm ngư���i nữa, vị chi tổng cộng là tám trăm người. Ông Cả Lụa cho mượn ba thuyền lớn chở được một trăm năm mươi người. Uyển Như cũng đang cho thuyền về, nhưng số thuyền đó là thuyền buôn nên chỉ có thể chở thêm không quá năm trăm người.
Một thuộc hạ thân tín của Uyển Như đã về trước cùng vài thuyền, thuật lại những gì anh ta biết về vùng cửa sông gần thành lớn của Sơn Tây vương, nhờ vậy Chương cơ bản đã có hoạch định.
Theo kế hoạch Chương đưa ra để mọi người cùng bàn, thuyền buôn chở binh sĩ giả dạng sẽ đi lại hai lượt để đưa một nghìn quân giấu mình vào khoảng rừng, đầm lầy giáp ranh giữa hai vùng của Quảng Trí quân và Vũ Ninh vương. Đội quân ém mình này buộc phải di chuyển thêm quãng đường khoảng hơn ba mươi dặm về hướng Bắc trong điều kiện trời tối, để đến nơi đóng quân và sẵn sàng xuất kích. Thời gian ém quân một tuần, lương thực phải đủ ăn mười ngày và y phục ấm. Do điều kiện địa hình phức tạp, mười lăm khẩu pháo lớn sẽ được tháo rời, vận chuyển đến nơi trú quân rồi lắp lại. Đạn đá không quá sáu trăm viên; sau khi dùng xong, sẽ đốt và phá hủy pháo, chỉ giữ lại dây. Trường hợp thuận lợi, có thể trang bị cầu chông tại chỗ nhưng phải đảm bảo bí mật.
Thuyền buôn sau khi chở hai lượt quân cất giấu sẽ quay về La thành chở hàng về Thiên Đức rồi quay lại neo gần khu đầm lầy vắng bóng người và phải xóa dấu vết để tránh hại đến đoàn thuyền buôn sau này. Nếu có thể cướp được thuyền địch để xuôi về thì là tốt nhất. Trong số quân đi trước, bắt buộc phải có Thần Vũ cải trang đi kèm.
– Ngày đi chưa rõ, nhưng các anh đây sau khi chọn tinh binh xong thì lập tức hành quân leo núi trong đêm, thực hiện xóa dấu vết. Buổi sáng sẽ có quân khác vào núi dò tìm dấu vết để rút kinh nghiệm. Đây là bản đồ vẽ tay do Uyển Như chuyển về; tất cả chỉ huy phải học thuộc bản đồ, các ám hiệu quy ước với nhau, và cách truyền tin về bản doanh báo yên hoặc báo động mỗi ngày. Tránh né địch mà đi, không lại gần làng mạc. Trường hợp gặp dân, cần bắt giữ rồi thả sau.
Mọi người chia nhau xem bản đồ. Chương nói tiếp:
– Thủy binh sẽ xuất phát trong đêm khi nhận tin từ anh Cự Lượng. Hẹn nhau giữa giờ Mão, hai mặt giáp công đánh vào nhóm quân Quảng Trí có lực lượng từ hai đến bốn nghìn người do Cự Lượng đã chọn trước. Dù có thế nào, chúng ta cũng chỉ giao chiến trong tối đa nửa canh giờ rồi phải rút triệt để. Đánh trận này, chúng ta sẽ cho thiên hạ thấy tài xuất quỷ nhập thần của thủy binh Thiên Đức: Đến không ai biết, đi không ai hay. Nhiệm vụ của đội tinh binh đi trước là rất nguy hiểm, chọn người xung phong, nếu không đủ hãy mượn người đội khác. Ta xin nhắc lại, binh sĩ tham gia không được phép biết sẽ đi đâu, đánh với ai và đánh khi nào cho đến khi xuất kích.
Chương nói với Duệ:
– Tăng gấp đôi khẩu phần ăn cho anh em đi trước. Tốt nhất nên tổ chức ăn Tết sớm trong quân. Những anh em cùng Cự Lượng ém quân sẽ nhận trước ba tháng lương, về không cần trả lại.
Chương nhìn về phía Cự Lượng, nói:
– Lữ đoàn trưởng Phạm Cự Lượng, nhận lệnh!
– Thưa, có Cự Lượng.
– Giao cho anh một nghìn quân. Nếu sơ suất trong lúc hành quân khiến quân sĩ thương vong, anh sẽ bị trách phạt. Nhẹ thì hạ cấp, nặng thì xuống làm tốt. Anh có đồng ý không?
– Tuân lệnh!
Chương giao lại cuộc họp cho Cự Lượng. Duệ và Thiên Bình cũng ở lại, trong khi Chương mời bọn Bỉnh Di ra nơi khác uống trà.
Xuân nhận chén trà từ Chương, hất hàm hỏi:
– Cậu đánh lớn vậy mà không có phần chị à?
– Cái này chị phải hỏi ý kiến anh Di và xem anh Diệu có chịu không chứ? Phận em út như em sao mà dám đòi hỏi.
Diệu nói luôn:
– Chỗ anh em, cậu cho bọn tớ đi giúp một tay, đảm bảo không làm cậu thất vọng. Di nhỉ?
Bỉnh Di nhếch miệng cười:
– Vậy còn ta thì sao? Các người sẽ lấy lý do ta phải quán xuyến việc quân nên bắt ta ở nhà chứ gì?
Chương tặc lưỡi:
– Bác cả phải chịu thôi. Em nói bác nghe, cổ nhân bảo “làm em ăn thèm vác nặng”. Đây đều là do bọn em thương bác đấy thôi. Tả Đô đốc tuổi đã cao, sức đã yếu, cần người sớm hôm săn sóc mà.
– Chúng bay đứa nào bảo ta già đấy?
Cả bọn giật mình ngoái ra nhìn thấy Phạm Tu cùng hai ông phó đứng bên cửa từ lúc nào.
– Cái thằng ranh này, ta chấp mười đứa như mày chứ ở đấy mà nói ta già.
Phạm Tu ngồi xuống, ra hiệu cho cả đám ngồi.
– Nghe tin lũ chúng bay tự dưng tụ tập ta nghi có biến nên tự mò đến. Bọn thằng Cự Lượng trong kia thì thào như buôn bạc giả, hỏi cũng không hé răng nên ta đành đến đây. Nói đi, chúng bay định làm gì?
Chương thuật lại đầu đuôi. Nghe xong, ba ông sắp già cũng đòi đi cùng đám trẻ. Chương không đồng ý, nhưng ba ông đem vai trưởng bối ra ép nên Chương đành thương lượng: sẽ có ba lá thăm, hai đỏ một trắng. Đỏ đi, trắng ở lại.
Bằng một thủ thuật nào đó, Phạm Tu lại vớ phải tờ thăm trắng.
– Chắc chắn thằng Chương nó giở trò.
Phạm Tu không bằng lòng muốn rút lại, nhưng hai ông kia không chịu. Thế là cha con Phạm Tu chịu thiệt.
Phạm Tu nói cho cả bọn những hiểu biết của ông về cách dùng binh của Lý Thái sư, Quảng Trí quân, Tô Trung Từ và tấm bản đồ vùng Sơn Tây hơn chục năm trước. Ông góp ý thêm về cách dùng quân và những kinh nghiệm trận mạc. Trước khi ra về, Phạm Tu nói với Chương:
– Trước khi rút quân, nhớ nhắc Thái sư gửi quà Tết cho chúng ta. Lão ấy có nhiều mỹ tửu nhưng lại chỉ uống một mình, đúng là một lão hà tiện xấu tính. Mà ta chắc chắn mày giở trò. Cứ liệu hồn đấy.
Ba ông sắp già kéo nhau về, Chương cười nhăn nhở.
– Sao gạt được ông cụ vậy?
Bỉnh Di hỏi, Chương đưa hộp cho Bỉnh Di bốc thử. Dù bốc kiểu gì, kết quả cũng là mẩu giấy trắng gấp làm tư.
– Có mỗi hai tờ đỏ là tôi, em đã dính vào vách hộp, đánh lừa hai ông chú rồi.
– Đúng là láu cá thật.
Bỉnh Di và cả bọn ôm bụng cười chán chê rồi mới tiếp tục bàn tính. Quang Diệu và Xuân cũng đi cùng Võ Văn Dũng. Mỗi người đem theo ba mươi tinh binh vì còn bốn thuyền Mông Đồng đang làm ngày đêm sẽ xong trong nay mai.
Ai cũng biết đây là một kế hoạch mạo hiểm, khó khả thi nhưng vì vậy mà có yếu tố bất ngờ. Quãng đường từ Thiên Đức đến điểm giao chiến dự định khoảng gần hai trăm dặm. Ngay cả thương thuyền có ba buồm lớn cũng phải mất một ngày mới đến nơi nếu thời tiết thuận lợi.
Thuyền Mông Đồng không có buồm, tốc độ nhanh nhất có thể đạt 10 hải lý, và tốc độ trung bình khoảng 7 hải lý một giờ. Với tốc độ trung bình, nếu thời tiết tốt, sẽ mất khoảng năm tiếng đồng hồ để vượt qua quãng đường khoảng chín chục cây số.
Một vấn đề nan giải bọn Chương phải tính toán, ấy là di chuyển ban đêm, trời không trăng, đèn không thắp để đảm bảo bí mật. Chương chờ Uyển Như về cùng họp bàn với Yết Kiêu, bởi thắng bại của trận chiến này chính là ở điểm đó.
Bản quyền nội dung đã được chuyển giao cho truyen.free, giữ gìn trọn vẹn giá trị tinh hoa.