(Đã dịch) Ta Một Ngày Có 48 Giờ - Chương 497: Đông khu
Dù Trương Hằng và Holmes có những khoảnh khắc vui vẻ bên nhau trong thời gian này, nhưng rốt cuộc họ cũng mới quen biết vài tuần, chưa thể nói đến tình bạn thâm sâu. Khi Trương Hằng khuyên nhủ một câu mà bị đối phương xem thường, anh cũng không nói thêm gì nữa, bởi lẽ cả hai đều là người trưởng thành, đủ khả năng chịu trách nhiệm cho hành động của mình.
Trước khi Trương Hằng rời phòng, Holmes thở dài một tiếng đầy thỏa mãn rồi đề nghị: "Cậu hiếm khi đến Luân Đôn, nếu rảnh rỗi hãy ra ngoài đi dạo một chút. Đừng chỉ nhìn bằng mắt, mà hãy cẩn thận quan sát thành phố này, ghi chép lại những chi tiết nhỏ. Điều đó sẽ hữu ích cho việc phá án của cậu sau này đấy."
Trương Hằng ừ một tiếng đáp: "Tôi sẽ nhờ bà Hudson mang bữa trưa lên cho ông."
"Vô cùng cảm kích."
... ...
Thực ra, dù không có lời nhắc nhở của Holmes, việc dạo chơi Luân Đôn vẫn nằm trong kế hoạch của Trương Hằng. Holmes không nghi ngờ gì là người hiểu rõ thành phố này hơn ai hết; ông có thể hòa mình vào những vũ hội, yến tiệc của giới thượng lưu (mặc dù ông vẫn khịt mũi coi thường những nghi lễ phiền phức và sự giả tạo nơi đó), đồng thời cũng có thể vui vẻ uống bia đen, trò chuyện cùng những người phu xe, công nhân.
Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này và hoàn thành nhiệm vụ chính tuyến, Trương Hằng cần phải rút ngắn khoảng cách giữa hai bên.
Bởi vậy, chiều hôm đó anh cũng rời khỏi phòng. Trương Hằng không thuê xe ngựa, mà cứ thế trực tiếp bước ra đường lớn.
Anh ghé thăm phiên chợ Nữ hoàng náo nhiệt, nơi chỉ cần trả một đồng là có thể chiêm ngưỡng chiếc bình hoa Hoàng gia chế tác từ kính định hình, tráng men và kim loại quý, tương truyền do mười lăm thợ lành nghề làm ròng rã ba năm mới hoàn thành. Ngoài ra, trên chợ còn bày bán vô số món đồ lạ mắt đến từ khắp nơi trên thế giới: áo bông Ấn Độ, trà Trung Quốc... Sau đó, Trương Hằng lại đi thuyền du ngoạn sông Thames. Hai bên bờ sông ken dày nhà máy và nhà ở, những ống khói san sát không ngừng nhả khói đen. Bến sông đậu vô số thuyền bè, ngày càng dày đặc, chỉ chừa lại một lối đi hẹp ở giữa. Những người chèo thuyền cởi trần phì phèo thuốc lá ở đuôi thuyền, trong khi toàn thành phố bị bao phủ bởi lớp sương mù mà Dickens từng gọi là "Hoạt động tội ác".
Xe ngựa vội vã lướt qua trên đường. Những cô gái bán hoa tay xách những lẵng hoa, nhẹ nhàng luồn lách qua đám đông. Những đứa trẻ đánh giày thì cặm cụi ngồi xổm dưới đất, dùng chiếc bàn chải quẹt giày, mong kiếm được nhiều tiền típ hơn.
Phía tây của Charing Cross là trung tâm thương mại và giải trí chính của Luân Đôn, cũng là trung tâm kinh doanh lớn nhất nước Anh, nơi tập trung khu nhà hát West End danh tiếng. Trái lại, khu East End nằm phía bắc sông Thames, về phía đông của Giáo xứ Bishopgate, lại mang một cảnh tượng hoàn toàn khác.
Vào thời Trung cổ, nơi đây vẫn là vùng nông thôn hoang vắng. Nhưng khi Luân Đôn mở rộng nhanh chóng, dân số trở nên đông đúc, nhà cửa nơi đây phổ biến cũ kỹ, xuống cấp, lại thấp bé và chen chúc, những con đường thì nhỏ hẹp, quanh co. Ban đầu, đây là nơi cư trú của các thủy thủ, những người đóng thuyền và một bộ phận lớn người Do Thái, còn hiện tại là nơi ở của mọi tầng lớp thu nhập thấp.
Số người sinh sống nơi đây vô cùng đông đúc, chỉ nửa dặm vuông đường phố đã tập trung tới ba vạn người. Về cơ bản, mỗi căn phòng đều có rất nhiều người ở, điều kiện ánh sáng tồi tệ, lại thiếu hệ thống thông gió. Những nhà vệ sinh chung thì cực kỳ bẩn thỉu, không khí tràn ngập mùi hôi thối nồng nặc. Hậu quả là dịch bệnh liên tiếp bùng phát.
Bệnh phát ban và thương hàn là những bệnh truyền nhiễm thường gặp nhất. Đợt dịch tả đầu tiên vào đầu thế kỷ 19 đã cướp đi sinh mạng khoảng sáu nghìn người. Sau đó, những đợt dịch tả tiếp theo còn giết chết hơn vạn người, trong đó tuyệt đại đa số là người nghèo ở khu East End.
Đồng thời, khu East End cũng là nơi nguy hiểm nhất Luân Đôn với tỷ lệ tội phạm cao nhất.
Hai triệu dân sinh sống nơi đây, vậy mà không có bất kỳ công trình công cộng quan trọng nào, không có chính quyền địa phương, không có nhà hát hay phòng trưng bày tranh, cũng chẳng có binh lính... Chẳng có gì cả, cứ như một góc bị lãng quên, nơi đây không có lịch sử, cũng chẳng có tương lai.
Giới thượng lưu West End sẽ không bén mảng đến đây, trừ phi cực chẳng đã, cần liên hệ với cảnh sát Scotland Yard và phải có vài người đi cùng để đảm bảo an toàn.
Trương Hằng cũng chỉ đến đây sau khi đã thay bộ quần áo vải thô, vậy mà chẳng bao lâu sau vẫn bị người khác theo dõi.
Chủ yếu là vì khuôn mặt người phương Đông của anh quá nổi bật.
Hơn nữa, là một người hiện đại đến từ thế kỷ 21, làn da của anh dù không chăm sóc chút nào cũng tốt hơn da của nhiều quý tộc thời đại này. Cho dù đã thay quần áo, anh vẫn không giống những người nghèo sống ở khu East End.
Hai đứa trẻ con, vừa đi vừa dùng cành cây đùa nghịch bên cạnh anh. Một trong số chúng trượt chân ngã vào người Trương Hằng.
"Xin lỗi ông," đứa trẻ con mắt đảo như rang lạc, đứng dậy toan đuổi theo bạn mình. Nhưng chỉ vừa bước được một bước, nó đã bị một bàn tay tóm lấy cổ áo nhấc bổng lên.
"Ông muốn làm gì? Đừng có đụng vào tôi! Tôi cảnh cáo ông, ông có biết anh trai tôi là ai không?! Ở khu này không ai dám gây sự với anh ấy đâu!" Đứa trẻ con kêu gào.
"Thật vậy sao?" Trương Hằng nói, tay vẫn không dừng lại, trực tiếp dốc ngược đứa trẻ con. Anh nắm lấy một bên ống quần của nó, giũ mạnh. Lập tức, ba cái ví tiền cùng một số đồ vật nhỏ linh tinh rơi lả tả từ người nó xuống đất.
"Hôm nay cậu thu hoạch cũng khá đấy chứ." Trương Hằng quẳng đứa trẻ con sang một bên, sau đó nhặt ví tiền của mình lên.
"Ông cứ đợi đấy! Hôm nay đừng hòng rời khỏi đây!" Đứa trẻ con cảm thấy bị sỉ nhục, mặt đỏ tía tai, không buồn nhặt những chiến lợi phẩm còn lại mà ba chân bốn cẳng chạy mất hút.
Trương Hằng đương nhiên cũng chẳng có hứng thú đáp lại lời hẹn đánh nhau của đứa trẻ con. Anh phủi bụi trên túi tiền, rồi tiếp tục đi về phía trước.
Thực tế, Trương Hằng đã nghe tiếng xấu của khu East End từ lâu. Nhưng vì anh từng sống trong hang ổ hải tặc, anh chưa từng nghĩ trên đời này còn nơi nào hỗn loạn hơn chỗ đó. Cho đến khi tự mình đặt chân vào khu Whitechapel ở East End, anh mới không thể không thừa nhận rằng nơi đây còn tệ hại hơn cả Nassau.
Ở Nassau, dù những tên hải tặc cấp thấp cũng vô cùng nghèo khó, nhưng ít nhất họ vẫn có được tự do và hy vọng vào tương lai. Trong các quán rượu trên đảo, người ta có thể nghe thấy mọi người bàn tán về những kho báu cổ xưa và thần bí, về những thuyền buôn giàu có kếch xù, về quái vật biển, những nàng tiên cá xinh đẹp. Cho dù ngay cả một chiếc thuyền nhỏ họ cũng chưa tìm được, cũng chẳng có đoàn hải tặc nào muốn thu nhận, nhưng trên gương mặt mỗi người vẫn tràn đầy một sự tự tin khó hiểu.
Cứ như thể mỗi người trong số họ đều là Râu Đen tương lai vậy. Đây cũng là điểm Trương Hằng yêu thích ở Nassau: ẩn chứa một sức sống mãnh liệt dưới vẻ hỗn loạn và vô trật tự. Mà điều này lại chính là thứ mà khu East End đang thiếu.
Đáng sợ hơn nghèo khó chính là sự chai sạn và tuyệt vọng.
Có lẽ đây cũng là lý do tại sao những người như Pearson lại liều mạng muốn rời khỏi nơi đây. Trên đường đi, Trương Hằng chỉ thấy những đứa trẻ đói ăn, những cặp cha con đau khổ, những gã say rượu hung hãn. Người ta chỉ nhớ đến nơi này khi có án mạng hoặc dịch bệnh bùng phát.
Trương Hằng đi thêm một đoạn đường nữa thì đột nhiên nghe thấy tiếng cãi vã vọng đến từ phía trước.
Bản quyền nội dung này thuộc về truyen.free, xin vui lòng không sao chép trái phép.