(Đã dịch) Ngã Đích Đệ Tam Đế Quốc - Chương 679: Còn rất khó nói
Hồng quân Liên Xô khi ấy sở hữu gần 14.000 xe tăng có thể tham gia tác chiến, tạm thời vẫn duy trì được chút ưu thế về lực lượng thiết giáp so với Đức. Tuy nhiên, ngay cả Zhukov cũng phải thừa nhận rằng, trong số đó, chỉ khoảng 4.000 chiếc đủ sức gây uy hiếp cho xe tăng Đức, số còn lại, trước mặt quân Đức, chẳng khác nào xe bọc thép hạng nhẹ.
Tất nhiên, lực lư��ng không quân của Hồng quân Liên Xô cũng khó lòng so bì với máy bay Đức. So với một nước Anh với tiềm lực công nghệ dồi dào và khả năng nghiên cứu sâu rộng, lĩnh vực hàng không của Liên Xô chưa đạt đến tầm vóc đó. Thế nên, ở một dòng thời gian khác, trình độ của Không quân Liên Xô vẫn luôn ở mức bị phi công Đức áp đảo hoàn toàn. Những mẫu máy bay mà người ta quen thuộc với tính năng tạm ổn đa phần chỉ miễn cưỡng tham chiến vào giai đoạn cuối Chiến tranh thế giới thứ hai.
Do đó, dù Không quân Liên Xô hiện tại sở hữu số lượng khổng lồ lên tới 11.000 chiếc máy bay, nhưng đa số đều là những chiến đấu cơ lạc hậu như I-16. Khi đối phó với chiến đấu cơ FW-190D của Đức, chúng hoàn toàn không phải đối thủ, huống hồ là các mẫu Ta-152 với hiệu suất bay vượt trội hơn nhiều.
Mặc dù Liên Xô đã nhận dây chuyền sản xuất động cơ máy bay Rolls-Royce được sao chép giản lược và tự nghiên cứu các mẫu máy bay chiến đấu như I-20, MiG-1 sử dụng động cơ pít-tông Rolls-Royce kiểu mới, nhưng về tổng thể, trình độ của chúng vẫn còn kém xa so với các chiến đấu cơ chủ lực của Đức như FW-190D.
Đến mức các phi công Liên Xô đã hoàn toàn mất đi lòng tin vào việc giành quyền kiểm soát bầu trời chiến trường. Trong số họ lan truyền đủ loại tin đồn, cả về những phi cơ đối thủ được sơn phết đáng sợ – một số phi công át chủ bài của Đức bị những phi công Liên Xô này miêu tả như những ác quỷ. Sở dĩ những người lái máy bay Liên Xô này không thể gọi là "không quân" chủ yếu là vì chín phần trong số họ chỉ đơn thuần là người biết lái máy bay, chứ không phải những binh sĩ có khả năng tác chiến trên không.
Còn về các đối thủ trong lời của "những phi công nghiệp dư" (cách phi công át chủ bài Đức miêu tả phi công Liên Xô), nổi tiếng nhất chính là chiếc Ta-152 có hình hoa tulip đen sơn ở mũi máy bay. Chiếc phi cơ này được miêu tả như tử thần đen, đôi cánh của quỷ, thậm chí có tin đồn rằng chiếc máy bay này do chính người gác cổng địa ngục điều khiển.
Vào thời điểm những lời đồn đại này lan truyền, Hartmann đã lái chiếc phi cơ của mình bắn rơi tổng cộng 130 chiếc máy bay địch các loại. Số lần bắn rơi này gần gấp ba số lần anh ta chạm trán máy bay địch trên không, bởi vì mỗi lần chạm trán máy bay địch, anh ta đều có thêm chiến tích mới, không phải là có hay không mà là có bao nhiêu.
Tuy nhiên, dù trong tình thế đó, Hồng quân Liên Xô vẫn có những ưu thế riêng. Chẳng hạn như ở lĩnh vực pháo cỡ lớn, các đơn vị Liên Xô có ưu thế vượt trội. Trong lịch sử, quân đội Liên Xô có thể nói là một trong những quân đội trên thế giới coi trọng pháo binh nhất. Stalin thậm chí thúc giục Hồng quân Liên Xô bố trí càng nhiều pháo cỡ lớn đến mức gần như bất thường. Có lẽ sức mạnh của pháo binh trong chiến tranh đã để lại cho ông ấy ấn tượng sâu sắc, hoặc cũng có thể ông biết rằng việc vượt qua quân Đức ở các lĩnh vực khác vào thời điểm đó là khá khó khăn.
Trên thực tế, quân Liên Xô sở hữu hơn 5.000 khẩu pháo 122mm Cannon. Loại pháo này đã phát huy vai trò quan trọng trong trận Khalkhin Gol. Do đó, từ năm 1937, Liên Xô đã ráo riết sản xuất loại vũ khí này, tích lũy đến nay đã có một số lượng đáng kinh ngạc.
Ngoài ra, Liên Xô còn có vô số pháo 210mm, pháo 155mm, 100mm do Mỹ viện trợ, cùng với một lượng lớn pháo 85mm và 76mm. Thêm vào đó, Liên Xô vốn luôn coi trọng pháo cối, súng cối và cả pháo đường sắt... Ở mặt trận phía Đông, Liên Xô bố trí các loại pháo từ pháo đường sắt 380mm đến pháo núi 75mm, tổng số lượng đã vượt quá 31.000 khẩu, có thể nói là áp đảo hoàn toàn quân Đức về số lượng.
Tuy nhiên, những loại pháo này lại có khả năng cơ động hạn chế, không thể điều động và bố trí nhanh chóng trên quy mô lớn. Trong khi đó, với pháo Đức, một nửa có thể dễ dàng kéo đi, một phần năm có khả năng tự hành di chuyển tương đối nhanh. Khả năng cơ động của pháo Liên Xô kém xa, không chỉ một bậc, khiến chúng không thể nhanh chóng tập trung hỏa lực để tạo ưu thế ở các khu vực cục bộ như quân Đức.
Thực tế, mối đe dọa hỏa lực chết người hơn lại đến từ một binh chủng đặc biệt mới thành lập của lục quân Đức: Không quân Lục quân. Không quân Lục quân này không phải kiểu không quân yểm trợ mặt đất như của Mỹ, mà là các đơn vị tiếp viện mặt đất, được trang bị trực thăng vũ trang và trực thăng vận tải hoạt động ở tầm thấp.
Mẫu trực thăng Odin mới so với tiền nhiệm Crusader có bước cải tiến đáng kể về khả năng tải trọng. Do đó, loại trực thăng mới này có thể lắp đặt những tấm thép dày dặn và hỏa lực tương đối mạnh. Khả năng sống sót trên chiến trường đã cho phép loại máy bay này tham gia vào các hoạt động tác chiến tiền tuyến.
Các đơn vị Đức phát hiện rằng Hồng quân Liên Xô thiếu vắng các đơn vị pháo phòng không tự hành đi kèm với quân đội di chuyển. Khả năng phòng không tức thì của các đơn vị thiết giáp trên chiến trường thực sự rất hạn chế. Bởi vì Hồng quân Liên Xô không giống với nước Đức, cuộc chiến tranh Ba Lan lần thứ hai đã khiến Hồng quân Liên Xô tổn thất một lượng lớn các đơn vị thiết giáp và nhận ra sự thiếu hụt nghiêm trọng về chất lượng của chúng.
Do đó, việc quân Đức sử dụng khung gầm xe tăng cũ để cải tạo thành pháo phòng không tự hành và pháo tự hành là điều mà Liên Xô không thể học theo trong ngắn hạn. C��c kỹ sư Liên Xô vẫn luôn tìm cách tận dụng khung gầm xe tăng hiện có để cải tạo thành pháo chống tăng tạm thời, hoàn toàn không có nguồn lực để đáp ứng nhu cầu phòng không chiến trường, vốn không được coi là quá cấp thiết.
Điều này khiến các đơn vị lục quân Đức có một không gian sinh tồn trên chiến trường tương đối chật h��p, nhưng lại vô cùng nguy hiểm. Bởi vì qua vài cuộc đột kích chiến trường, quân Đức nhận thấy việc điều động trực thăng cùng tên lửa, lợi dụng tốc độ để thực hiện các cuộc tấn công bão hòa vào đội hình đối phương, rồi nhanh chóng rút lui, là một phương pháp hiệu quả để tiêu diệt các mục tiêu mặt đất của Hồng quân Liên Xô.
Các cuộc tấn công bão hòa chớp nhoáng của trực thăng trên chiến trường bằng tên lửa đã giúp quân Đức ở một mức độ nhất định tìm ra cách bù đắp cho sự thiếu hụt pháo binh. Dù sao, so với việc chờ không quân tiếp viện, việc gọi yểm trợ từ trên không của chính mình có ưu thế vượt trội về tốc độ phản ứng.
Nhưng viễn cảnh có vẻ rất hứa hẹn này lại tồn tại một nhược điểm chí mạng, đó chính là vấn đề sản lượng của trực thăng Odin. Loại trực thăng này vừa mới được đưa vào sản xuất không lâu, tổng số lượng trên toàn tuyến phía Đông chưa đầy 100 chiếc. Trong tương lai, loại máy bay này có lẽ sẽ bị phân bổ cho hải quân, không quân và các lực lượng cảnh sát trong nước. Do đó, trong thời gian ngắn, nó không thể được lục quân sử dụng để tiến hành các cuộc tấn công tiền tuyến quy mô lớn.
Một vấn đề tương tự cũng đang làm khó các đơn vị Đức ở Mặt trận phía Đông, đó là sản lượng không đủ của một loại vũ khí mới khác: xe tăng King Tiger (Hổ Vương) vừa mới đưa vào sản xuất. Loại xe tăng này, sau khi thử nghiệm, hoàn toàn có thể đánh bại xe tăng Stalin của Liên Xô. Hơn nữa, King Tiger còn có ưu thế áp đảo lớn hơn nhiều vào ban đêm, đủ để quân Đức giành lại ưu thế dẫn đầu về tính năng xe tăng.
Tuy nhiên, loại xe tăng này mới bắt đầu sản xuất hàng loạt. Nghe đâu, 30 chiếc xe tăng đầu tiên còn chưa rời khỏi nhà máy. Đến khi loại xe tăng này được đưa vào phục vụ rộng rãi, theo ước tính lạc quan nhất, quân Đức có lẽ đã đánh tới ngoại ô Moscow rồi. Do đó, các tướng lĩnh cấp cao của Đức đều biết rằng họ đã có những trang bị kỹ thuật tiên tiến hơn, nhưng điều đáng tiếc là họ phải đợi đến khi chiến thắng mới có thể sử dụng những vũ khí công nghệ cao này.
So với lục quân và không quân, quân nhân Đức thuộc hải quân lại may mắn hơn nhiều. Các tàu ngầm siêu cấp của họ đã ra biển, chuẩn bị thiết lập căn cứ hoạt động ở vùng biển gần Iceland. Đồng thời, hạm đội tàu sân bay dưới quyền Lütjens đang tiến hành huấn luyện chiến đấu ban đêm. Khi quá trình huấn luyện này hoàn tất, hạm đội Đức sẽ chủ động xuất kích, tìm hạm đội Anh để tái chiến một lần nữa.
Trải qua một năm phục hồi và điều động, Hải quân Anh đã triệu hồi các chiến hạm từ khắp nơi trên thế giới, tập hợp thành một hạm đội mới. Mặc dù thiếu hụt sự yểm trợ của tàu sân bay, hạm đội khổng lồ này đến nay chưa xuất kích gây khó dễ cho hải quân Đức. Thế nhưng, Lütjens, Raedel và cả Accardo đều biết rằng Hải quân Anh còn lâu mới bị đánh bại hoàn toàn. Ngay cả việc dùng từ "tổn thất nặng nề" để miêu tả cũng có vẻ hơi gượng ép. So với tổng số hơn 20 chiến hạm của Anh, việc mất chưa tới 10 chiến hạm rõ ràng không thể hoàn toàn đánh sập hạm đội từng bá chủ thế giới suốt 100 năm này.
Mỹ đồng thời xây dựng một lượng lớn tàu sân bay và hạm đội hộ tống ở cả hai bờ biển. Nếu chiến tranh kéo dài quá nửa năm 1939, số lượng tàu sân bay của Hải quân Mỹ sẽ vượt qua Đức. Nếu bước sang năm 1940, thậm chí hạm đội tàu sân bay Mỹ sẽ có ưu thế gấp đôi so với hải quân Đức. Dù sao, phần lớn năng lực sản xuất của Đức tập trung vào các đơn vị thiết giáp lục quân, nên tỷ lệ xây dựng hải quân của Đức cũng không thể nào ngang bằng hoàn toàn với Mỹ.
Nói tóm lại, trong ba quân chủng của Đức, hải quân lại là lực lượng có mức tăng trưởng số lượng ít nhất. Hơn nữa, xét về giá trị tuyệt đối khi so sánh với kẻ thù, hải quân Đức có xu hướng bị vượt mặt, thậm chí bị nới rộng khoảng cách. Dù sao, chức năng của hải quân Đức không thể so sánh với Anh và Mỹ. Ngay cả khi nó lập được công lao hiển hách trong việc đánh bại Anh, nó vẫn chỉ đóng vai trò thứ yếu trong toàn bộ chiến lược.
Bởi vì Mỹ và Anh là những quốc gia phải dựa vào hải quân để tồn tại, trong khi Đức chỉ cần đảm bảo lục quân tiến vào Trung Đông và kiểm soát các khu vực sản xuất dầu m���. Khi đó, các tuyến vận chuyển nhiên liệu của Đức sẽ nằm dưới sự bảo vệ ở Địa Trung Hải. Dù hải quân Mỹ có đông đảo đến mấy cũng không thể nào xông vào Địa Trung Hải đầy rẫy đảo, nơi có hơn ngàn máy bay lục quân Đức đóng quân, để tranh giành thắng bại.
Vì vậy, nhiệm vụ duy nhất hiện nay của hải quân Đức là phối hợp với Tập đoàn quân C, phòng thủ vững chắc Quần đảo Anh, đảm bảo tuyệt đối an toàn cho "Bức tường Đại Tây Dương". Việc hoàn thành mục tiêu này cũng vô cùng đơn giản: chỉ cần duy trì sự tồn tại của mình là đủ. Đây là một lực lượng hải quân thực sự hiện hữu; chỉ cần nó còn đó, ý định đổ bộ châu Âu tấn công Đức của Mỹ chỉ có thể coi là một ảo tưởng không thực tế.
Theo tình hình hiện tại, ba quân của Đức đều đang ở thế bất khả chiến bại. Nhưng thực tế có phải vậy không? Hoàn toàn không hẳn thế. Ít nhất, tất cả những điều này đều được xây dựng trên nền tảng sự đoàn kết đồng lòng của phe Trục. Mà trên thực tế, các nước gia nhập phe Trục, bao gồm Ý và Thổ Nhĩ Kỳ, đều có những tính toán riêng của mình. Một khi Đức gặp vấn đề quân sự, liệu những đồng minh này có quay sang phe Đồng Minh hay không, vẫn còn rất khó để nói trước.
Đoạn văn này được biên tập và phát hành bởi truyen.free.