(Đã dịch) Ngã Đích Đệ Tam Đế Quốc - Chương 67 : Dây xích
Vào khoảng năm 1923, kinh tế Đức lâm vào cảnh khốn cùng, do đó, theo yêu cầu của Anh, hai ủy ban đặc biệt đã được thành lập vào tháng 11 năm 1923. Một ủy ban có nhiệm vụ nghiên cứu cách cân bằng ngân sách và ổn định tài chính Đức; ủy ban còn lại chịu trách nhiệm điều tra tình hình vốn Đức bị chuyển ra nước ngoài và đề xuất phương pháp đưa vốn trở lại. Cả hai cơ cấu này đều do C.G. Dawes, một chủ ngân hàng người Mỹ, làm chủ tịch.
Sau đó, vào tháng 4 năm 1924, sau khi phân tích kỹ lưỡng, Dawes đã đưa ra một kế hoạch giải quyết vấn đề bồi thường chiến tranh, chính là Kế hoạch Dawes nổi tiếng trong lịch sử. Do gặp khó khăn tài chính, chính phủ Đức đã buộc phải chấp nhận kế hoạch này vào tháng 8 năm 1924.
Kế hoạch quy định Ngân hàng Deutsche Bank sẽ được các nước Hiệp ước giám sát cải tổ và thực hiện cải cách tiền tệ. Đức được vay 800 triệu Goldmark (tương đương 190 triệu đô la) từ các nước Hiệp ước để ổn định hệ thống tiền tệ. Trong bối cảnh tổng số tiền bồi thường chưa được xác định cuối cùng, kế hoạch đặt ra giới hạn hàng năm cho khoản bồi thường của Đức, bắt đầu từ 1 tỷ Goldmark trong năm đầu tiên (1924-1925), tăng dần hàng năm, và đến năm thứ năm (1928-1929) sẽ đạt mức chi trả 2,5 tỷ Goldmark mỗi năm.
Nguồn thanh toán tiền bồi thường của Đức đến từ thuế quan, thuế độc quyền rượu, thuốc lá, đường, thu nhập từ đường sắt và thuế của các doanh nghiệp công thương; đồng thời phát hành 11 tỷ Goldmark trái phiếu đường sắt và 5 tỷ Goldmark trái phiếu công nghiệp. Tài chính ngoại hối, hoạt động đường sắt và công tác thu thuế của Đức đều bị quốc tế giám sát và quản lý.
Nói cách khác, Đức, giống như Trung Quốc, đã bán đi chủ quyền thuế quan và các quyền lợi khác của mình để đổi lấy những khoản tiền lớn, dùng số tiền này hoàn trả khoản bồi thường chiến tranh mà các quốc gia trên thế giới đã cho nợ.
Ban đầu, Đức hy vọng có thể chối bỏ nợ nần, nhưng ngay sau đó, Pháp đã nổ ra cuộc xâm lược khu công nghiệp Ruhr. Đức chỉ có thể lấy điều kiện Pháp và Bỉ rút quân khỏi Ruhr để chấp nhận kế hoạch bồi thường. Vào ngày 16 tháng 8 năm 1924, kế hoạch được cả hai bên chấp nhận, và Pháp sau đó đã rút quân khỏi khu công nghiệp Ruhr.
Việc thi hành Kế hoạch Dawes đã đóng vai trò quan trọng trong việc phục hồi và phát triển kinh tế Đức vào nửa sau thập niên 20. Xét về lâu dài, kế hoạch này mang lại lợi ích cho Đức, vì năm 1924, Đức đã thanh toán 1 tỷ Goldmark tiền bồi thường cho các quốc gia, nhưng lại nhận được 1,5 tỷ Goldmark tiền vay từ họ.
Tuy nhiên, điều đáng tiếc là vào năm 1925, Đức vội vã tăng cường quân bị và ký kết Hiệp ước Versailles mới. Nhờ nỗ lực của các nhà ngoại giao Đức, chính phủ Đức trong năm đó chỉ phải bồi thường 1,1 tỷ Goldmark tiền chiến phí, nhưng lại vay được 2,5 tỷ Goldmark từ Anh và Mỹ.
Mặc dù việc ký kết hiệp ước này đã mang lại không ít lợi lộc cho Anh và Pháp, để đối phó với sự trỗi dậy của lực lượng vũ trang Đức, chính phủ Ba Lan đã mua 400 chiếc xe tăng Renault F-17 từ Pháp và 95 chiếc máy bay chiến đấu kiểu mới từ Anh. Các đơn đặt hàng chạy đua vũ trang này đã giúp người Pháp và người Anh kiếm bộn tiền.
Thế nhưng, sau khi Hiệp ước Versailles mới chính thức được ký kết và áp dụng, toàn thế giới một lần nữa chứng kiến năng lực động viên chiến tranh đáng sợ của Đức. Vào tháng 2 năm 1926, quân đội quốc phòng Đức đã vượt quá 250.000 người, đạt đến giới hạn trên của hiệp ước mới. Hải quân và không quân cũng lần lượt được mở rộng hoặc trang bị đầy đủ vào giữa tháng 3 và cuối tháng 4.
Anh và Pháp lo ngại rằng Đức sẽ lại mạnh lên và thách thức vị thế quốc tế của họ, thậm chí có thể trả đũa bằng vũ lực. Vì vậy, hai quốc gia này quyết định buộc thêm một "xiềng xích" khác vào nước Đức đang dần lớn mạnh.
Tháng 7 năm 1926, Thủ tướng phái cứng rắn nổi tiếng của Pháp, Raymond Poincaré, đã thay thế Edward Herriot lên nắm quyền. Vị thủ tướng này là một trong những nhân vật chủ chốt đã xúi giục Pháp phát động chiến dịch chiếm đóng khu công nghiệp Ruhr. Sau khi ông ta lên nắm quyền, chính phủ Pháp bắt đầu áp dụng chính sách cứng rắn đối với Đức. Pháp và Bỉ bắt đầu đòi nợ tiền bồi thường chiến tranh mà Đức đang nợ, khiến Đức buộc phải cầu viện Anh.
Lần này, Anh không đứng về phía Đức mà thể hiện thái độ công tâm, vô tư, xuất hiện với tư cách người điều giải công bằng giữa Pháp và Đức. Cuối cùng, Tổng thống Hindenburg đã lựa chọn thỏa hiệp, hạ lệnh Bộ Ngoại giao đàm phán với Pháp và Anh để soạn thảo một hiệp ước mới.
Ban đầu, tình thế cực kỳ bất lợi cho Đức, nhưng Bộ trưởng Ngoại giao Đức Stresemann đã thể hiện tài năng ngoại giao xuất sắc của mình. Ông xoay sở khéo léo giữa Anh và Pháp, thay đổi cục diện bất lợi cho Đức và hoàn thành một nhiệm vụ ngoại giao tưởng chừng không thể.
Không lâu sau đó, Đức, Pháp, Anh, Ba Lan, Tiệp Khắc và Bỉ đã tổ chức một hội nghị tại Locarno, Thụy Sĩ. Trong hội nghị này, tổng cộng đã thông qua nhiều văn kiện quan trọng.
Sau đó, các đại biểu quốc gia đã chính thức ký tên tại Luân Đôn vào ngày 1 tháng 12 năm 1926, và gọi chung chuỗi văn kiện quan trọng này là Hiệp ước Locarno.
Các nội dung chính bao gồm: Nghị định thư cuối cùng của Hội nghị Locarno; Hiệp ước Bảo đảm Lẫn nhau giữa Đức, Bỉ, Pháp, Ý, Anh (còn gọi là Hiệp ước An ninh Rhine), quy định Đức, Pháp và Bỉ cam kết bảo đảm lẫn nhau, biên giới Đức-Pháp và Đức-Bỉ không thể bị xâm phạm, tuân thủ các quy định của Hiệp ước Versailles về việc phi quân sự hóa khu vực sông Rhine, Anh và Ý đóng vai trò là các nước bảo lãnh, có nghĩa vụ viện trợ quốc gia bị xâm lược; Các Hiệp ước Trọng tài giữa Đức-Pháp, Đức-Bỉ, Đức-Ba Lan và Đức-Tiệp Khắc, quy định Đức cùng Bỉ, Pháp, Ba Lan, Tiệp Khắc sẽ giải quyết tranh chấp lẫn nhau bằng phương pháp hòa bình, mỗi cặp quốc gia ký hiệp ước sẽ thành lập một ủy ban hòa giải thường trực để xử lý các vấn đề song phương; Các Hiệp ước Bảo đảm giữa Pháp-Ba Lan và Pháp-Tiệp Khắc, quy định các bên sẽ viện trợ lẫn nhau khi một bên bị tấn công bất ngờ.
Công ước này đảm bảo hiện trạng biên giới giữa Đức với các nước láng giềng phía Tây, tức là xác định rõ biên giới giữa Đức với Pháp và Bỉ. Điều này có ý nghĩa tích cực đối với việc cải thiện quan hệ Pháp-Đức và ổn định tình hình châu Âu. Tuy nhiên, công ước lại không đưa ra cam kết bảo đảm biên giới của Đức với các nước láng giềng phía Đông, điều này đồng nghĩa với việc không ràng buộc Đức trong việc bành trướng về phía Đông.
Nói trắng ra, cuộc đàm phán lần này chính là một bữa tiệc kéo Đức về phe mình để kiềm chế Liên Xô. Đó là bước đầu tiên trong chiến lược lấy lòng Đức của Anh và Pháp, nhằm chuyển hướng tham vọng xâm lược của Đức về phía Đông. Nhưng vào thời điểm ký kết công ước này, trên thực tế, Đức vẫn ngấm ngầm cấu kết với Liên Xô, thậm chí còn có hơn 400 kỹ sư đang giúp Liên Xô xây dựng tàu chiến kiểu mới cho chính quyền Xô viết. Âm mưu của Anh và Pháp đã sớm thất bại từ trong trứng nước trước khi kịp bắt đầu.
Mặc dù tình hình Đông Âu vẫn căng thẳng, Hiệp ước Locarno vẫn được mọi người xem là có đóng góp xuất sắc vào việc cải thiện quan hệ giữa các quốc gia Tây Âu vào năm 1927. Việc ký kết công ước đã giúp Đức trở thành thành viên thường trực thứ sáu của Liên minh Quốc tế vào tháng 5 năm 1927, phần nào thoát khỏi cái bóng của một quốc gia bại trận. Hơn nữa, trong điều ước cũng quy định rõ ràng rằng quân Đồng minh phải hoàn toàn rút khỏi vùng Rhineland phía Tây Đức trước tháng 1 năm 1928. Sự thỏa hiệp này cho phép Đức không còn quân đội nước ngoài đồn trú trên lãnh thổ vào năm 1928, điều này không nghi ngờ gì là vô cùng phấn khởi đối với người dân.
Là cơ cấu chính thức đầu tiên nhằm duy trì hòa bình thế giới và khuyến khích hợp tác quốc tế, Liên minh Quốc tế đã chấp nhận Đức trở thành một trong các nước thành viên, qua đó đóng góp to lớn vào việc thiết lập hòa bình ở châu Âu.
Việc ký kết Hiệp ước Locarno là một sự điều chỉnh khá lớn đối với hệ thống Versailles về vấn đề an ninh châu Âu. Nó tạm thời xoa dịu vấn đề an ninh châu Âu, cải thiện mối quan hệ giữa các nước Hiệp ước, đặc biệt là giữa Pháp và Đức, đưa quan hệ quốc tế ở châu Âu vào một thời kỳ tương đối ổn định, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp tục thực hiện Kế hoạch Dawes và sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa của Đức vào giữa và cuối thập niên 20.
Tuy nhiên, công ước này lại không phải là một tin tốt đối với lực lượng quốc phòng. Nội dung mới trong đó bổ sung nhiều hạn chế đối với quân đội, ví dụ như nhắc lại rằng lực lượng quốc phòng không được vào khu phi quân sự sông Rhine, quy định Đức phải hạn chế việc buôn bán vũ khí ở khu vực Viễn Đông, và yêu cầu lực lượng quốc phòng phải chuyển hai sư đoàn biên giới phía Tây thành sư đoàn bộ binh hạng nhẹ nhằm giảm bớt áp lực biên giới với Pháp và Bỉ.
Mặc dù vậy, do sự cản trở của Anh và Ý, kết quả ký kết công ước đã khiến Pháp bị suy yếu, mất đi quyền trừng phạt Đức với tư cách là nước chiến thắng, và an ninh của chính mình cần Anh và Ý bảo đảm. Ngược lại, chính phủ Đức (chứ không phải quân đội Đức) lại là bên hưởng lợi chính, đạt được vị thế ngang hàng với Pháp, từ đó đặt nền móng cho việc khôi phục vị thế cường quốc chính trị của mình.
Điều đáng tiếc là Hiệp ước Locarno đã rõ ràng loại trừ Liên Xô khỏi cuộc chơi, điều này khiến Liên Xô cảm thấy bị phương Tây cô lập do cái gọi là "hòa đàm đơn phương của phương Tây". Trong và sau năm 1922, người Liên Xô đã cải thiện quan hệ với Đức thông qua Hiệp ước Rapallo và một loạt hợp tác bí mật. Vậy mà hành động của Tây Âu hiện tại lại công khai kéo Đức về phía Tây Âu.
Tuy nhiên, bất kể thế nào, ý đồ xiềng xích thêm vào cổ người Đức của Anh và Pháp coi như đã đạt được. Trong một thời gian, Tây Âu dường như rạng rỡ hẳn lên, chiến tranh dường như không còn là mối đe dọa, mọi người vui mừng khôn xiết. Sự suy thoái kinh tế cũng chuyển biến tích cực nhờ việc ký kết công ước này. Thậm chí tờ The Times của Mỹ cũng bình luận một cách tự tin trong bài báo của mình: "Người Đức không chỉ biết chế tạo đại bác, mà còn hướng tới hòa bình."
Việc ký kết công ước khiến Accardo cảm thấy vô cùng bất lực. Phái chính phủ và liên minh thương nhân trong nội bộ Đảng Großdeutschland cuối cùng đã thỏa hiệp với các quốc gia trên thế giới. Họ từ bỏ một phần lợi ích của quân đội để đổi lại lợi ích lớn hơn cho bản thân. Mặc dù xét về bề ngoài, Đức mất ít được nhiều, nhưng trong nội bộ đảng Großdeutschland, thế lực của giới thương nhân và chính khách đã lấn át một cách mờ ám thế lực quân đội, những người trung thành với Accardo.
Điều ông ta có thể làm chỉ là yên lặng phát triển đảng vệ quân, mở rộng tổ chức bán quân sự này lên đến 100.000 người – chưa kể Gestapo của lực lượng quốc phòng, mà chỉ tính riêng các thành viên kiểu Sturmabteilung và cán bộ. Mặc dù quân vệ của ông không hề chiếm ưu thế về quân số so với quy mô 300.000 người của Sturmabteilung, nhưng những người này đa số là lính xuất ngũ và sĩ quan tại ngũ, trình độ huấn luyện và trang bị vũ khí rõ ràng vượt trội hơn đối thủ của họ.
Đồng thời, lực lượng quốc phòng cũng không ngồi yên, họ bí mật mua sắm 40 chiếc pháo xung kích số 3 cho hai đơn vị: Sư đoàn 25 và Sư đoàn 26. Hơn nữa, họ còn bí mật niêm phong 300.000 thùng dầu mỏ Liên Xô dùng để trả nợ, dùng làm nguồn dự trữ chiến lược cho tương lai.
Dĩ nhiên, ngoài Accardo không hài lòng, còn có một người nữa vô cùng tức giận với công ước này, đó chính là Adolf Hitler. Việc ký kết công ước khiến kinh tế Đức hơi chuyển biến tốt, chủ đề tuyên truyền chống Do Thái của đảng Quốc xã của ông ta không còn thu hút sự chú ý của mọi người nữa. Do đó, sự phát triển của đảng Quốc xã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Cuộc bầu cử sắp đến gần, ông ta không thể chịu đựng thêm một thất bại nữa.
Mọi tài liệu chuyển ngữ trên đây đều thuộc quyền sở hữu của truyen.free, nghiêm cấm sao chép dưới mọi hình thức.