Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

(Đã dịch) Ngã Đích Đệ Tam Đế Quốc - Chương 438: Binh bại như núi đổ

Dường như Bộ Tư lệnh quân Đức có một quy tắc ngầm: Khi chiến sự thuận buồm xuôi gió, họ dùng lực lượng thiết giáp làm mũi nhọn, dồn dập tấn công sâu vào lòng địch như vũ bão, phát huy tối đa hiệu quả của vũ khí tinh nhuệ. Còn khi đối mặt với những trận chiến khốc liệt nhất, cam go nhất, họ lại điều động lính bộ binh – những người phải đối mặt với sự bẩn thỉu, mệt mỏi tột cùng và nỗi căm phẫn, nhưng chính họ đã đổ máu xương, biến thành bức tường kiên cố, vững chãi như núi. Những người lính bộ binh này, giống như Vệ binh Hoàng gia của Napoléon năm xưa, tuy không được bóng bẩy, nhưng lại mang trong mình khí thế "ngoài ta còn ai" nuốt chửng cả trời đất.

Khác với lục quân Đức ở một dòng thời gian khác, ở thời không này, Accardo đã sớm cho hệ thống công nghiệp Đức vận hành hết công suất, và còn phát hiện, bồi dưỡng được một "Thủ phụ" xuất chúng như Augus. Với những thiên tài hợp nhất công nghiệp hàng đầu như Jellinek Kaseya và Speer dưới trướng, nhờ vậy, trang bị của lính bộ binh Đức cũng dồi dào hơn hẳn so với những đồng nghiệp ở thế giới khác.

Những chiếc pháo tự hành tấn công nối tiếp nhau chậm rãi tiến về phía trước trên hai bên đường, đó là Sư đoàn Bộ binh Cơ giới số 1 thuộc Quân đoàn Cơ giới số 1 của Tập đoàn quân A – đơn vị bộ binh tinh nhuệ nhất nước Đức. Những người lính Đức đầy bụi đất này chính là niềm tự hào của toàn bộ lục quân Đức.

So v��i quân Đảng vệ (SS) – những người vừa ra trận đã hô vang "Nguyên thủ vạn tuế", tuy có sức chiến đấu ngoan cường đến khó tin nhưng cũng chịu tổn thất kinh hoàng – quân đội Quốc phòng (Wehrmacht) lại tỏ ra khôn ngoan hơn nhiều. Nếu quân Đảng vệ tác chiến dựa vào lòng trung thành cá nhân với Nguyên thủ Accardo, thì quân đội Quốc phòng chiến đấu dựa vào "kỹ thuật" đã thấm nhuần vào xương tủy họ.

Những người lính bộ binh Đức này chiến đấu anh dũng, ngoan cường đến tột cùng. Họ tự hào khi được tham gia vào những trận chiến cam go nhất, tưởng chừng không có phần thắng, và vui mừng khôn xiết khi trở thành lực lượng đáng tin cậy nhất của Nguyên thủ Đức.

Thế nhưng, những ngày gần đây, đòn phản công của quân Anh thực sự khiến binh lính Đức có chút khó hiểu. So với những gì đã diễn ra ở khu vực Norwich trước đây, sự kháng cự, hay đúng hơn là phản công gần đây của quân Anh, có thể nói là yếu ớt. Cái khí thế "tấc đất tất tranh" đã biến mất gần như hoàn toàn, thay vào đó là sự tan rã, yếu ớt trên một phạm vi rộng lớn.

Sau khi chiếm được Cambridge, Rundstedt ra lệnh cho quân Đức cố thủ tại chỗ chờ đợi quân Anh phản công. Thế nhưng, sau một buổi chiều chờ đợi, quân Anh vẫn không đủ dũng khí để giành lại Cambridge từ tay quân Đức, trong khi đó, Tập đoàn quân A của Đức cũng có được một khoảng thời gian nghỉ ngơi ngắn ngủi nhưng quý giá.

Họ cũng đã thu xếp, phân loại một cách cẩn thận những vật tư chiếm được từ quân Anh trong mấy ngày qua. So với Montgomery với chiến thuật đánh chắc tiến chắc, thì việc Goth bị buộc phải tấn công trên thực tế đã tự mình để lộ một sơ hở cực lớn cho Rundstedt. Viên tư lệnh Tập đoàn quân A, người rất được Accardo tin tưởng, hiển nhiên là một "kẻ lão luyện" có tài năng thực sự. Ông ta đã nắm bắt được sơ hở từ đòn phản công cưỡng ép của quân Anh, và một đòn tiêu diệt phần lớn sinh lực của đối phương.

Thêm vào đó, ông ta còn sử dụng các cuộc tấn công chớp nhoáng, phối hợp với hành động "chặt đầu" của lực lượng đặc nhiệm và các hoạt động phá hoại phía sau lưng địch, đã chiếm được hơn một nửa số vật tư tiếp tế mà Montgomery chưa từng để mất trên quy mô lớn trước đây. Những vật tư này bao gồm lượng nhỏ lương thực dự trữ gần Norwich, nhiên liệu và đạn dược, thậm chí cả một số sân bay và các tuyến đường sắt, đường bộ mà quân Anh chưa kịp phá hủy. Có thể nói, sau khi Montgomery rút đi, quân đội Anh chẳng khác nào một nửa quân đoàn vận tải hậu cần của Đức.

Việc mất đi số vật tư này càng khiến cho việc phân phối vật liệu tại London của Anh trở nên chật vật, và dẫn đến tình thế khó khăn hiện tại là không có binh lực để phản công. Không phải người Anh không muốn phản công, mà là họ hoàn toàn không có cách nào để làm điều đó. Họ giống như nước Đức năm 1945, chỉ có thể bị động chờ quân Đồng minh tấn công, không thể đưa ra bất kỳ biện pháp phản công hiệu quả nào.

Nước Anh có trong tay hàng trăm ngàn quân lính, nhưng lại phải bảo vệ một vùng lãnh thổ rộng lớn hơn. Để ngăn chặn quân Đức vượt sông Ouse tiến lên phía bắc, một trăm ngàn quân ở khu vực Peterborough hoàn toàn không thể di chuyển. Còn để đề phòng quân Đức tiến về phía tây, năm mươi ngàn người ở khu vực Bedford cũng tương tự bị giữ chân. Dọc theo bờ biển dài dằng dặc, họ còn phải bố trí hàng chục ngàn lính phòng thủ bờ biển, riêng khu vực London cũng cần ít nhất một trăm ngàn quân để nghênh chiến quân Đức. Ở giai đoạn này, quân đội Anh không chỉ thiếu hụt nghiêm trọng về chất lượng binh lính, mà ngay cả số lượng binh lính cũng đã bắt đầu thiếu.

Giờ đây, đừng nói là Churchill – vị thủ tướng Anh lẽ ra đã bị Quốc vương bệ hạ phế truất từ lâu – mà ngay cả Quốc vương cũng không còn tin vào chuyện hoang đường như đuổi quân Đức xuống biển. Liệu người Anh có giữ được London hay không, dường như cũng đã trở thành một câu hỏi lớn. Kế hoạch động viên toàn dân "ngọc nát đá tan" đã khiến lòng người London hoang mang tột độ. Hiện tại, Hoàng gia Anh đã hủy bỏ tất cả các kế hoạch tuần tra và diễn thuyết công khai, như thể lo sợ người dân Anh sẽ ném lựu đạn lên bục diễn thuyết.

Ở Ấn Độ, thuộc địa đang bất ổn. Nhật Bản thì đang dòm ngó gần Hồng Kông. Australia, đ�� thoát khỏi sự kiểm soát của Anh, đang ngả về phía Mỹ. Ngay cả khu vực Bắc Phi và Địa Trung Hải, vốn luôn được Anh coi là huyết mạch, cũng đang bùng cháy dữ dội bởi chiến tranh. Giờ đây, Anh chỉ còn biết trông cậy vào Canada – thuộc địa duy nhất còn tương đối yên bình và ổn định của mình.

Tất nhiên, việc Anh di tản sang Canada thực chất đã chạm vào "vảy ngược" của Mỹ. Với tư cách là cường quốc duy nhất được thiên nhiên ưu đãi ở Bắc Mỹ, Mỹ không đời nào để Anh tiếp tục vững vàng cai trị Canada. Vì vậy, Hoàng gia Anh coi việc di tản sang Canada là đại sự, và phía Anh đã liên tục đàm phán một cách vất vả với Mỹ, thậm chí nhượng cả lợi ích ở châu Á cho Mỹ, và coi như không thấy những gì diễn ra với Australia.

Đối với Mỹ mà nói, việc Đức thống nhất châu Âu chẳng qua chỉ là có thêm một đối thủ cạnh tranh, nhưng việc Anh di tản sang Canada lại như thể muốn "ngủ chung giường" với Mỹ. Vì vậy, lần này Roosevelt quyết không nhượng bộ. Ông ta đã công khai phát biểu, bày tỏ hy vọng Anh có thể chiến đấu đến cùng với quân Đức trên chính lãnh thổ của mình.

Tuy nhiên, muốn "huyết chiến đến cùng" thì vẫn cần phải có "máu" để mà chiến đấu. Tuyến vận tải đường biển của Anh chỉ vừa đủ để duy trì tiêu hao trong các cuộc không chiến và sinh hoạt bình thường trong nước. Giờ đây, khi chuyển sang các cuộc đại chiến lục địa quy mô lớn, mức tiêu hao khủng khiếp đã khiến tuyến vận tải yếu ớt đó hoàn toàn sụp đổ.

Donitz chính là át chủ bài cuối cùng của hải quân Đức, điều mà Tổng thống Mỹ Roosevelt đã sớm đoán ra. Chỉ có điều, vị Tổng thống Mỹ này sẽ không nói ra, còn Thủ tướng Anh Churchill thì không dám nói. Từ ngày 14 tháng 2 đến ngày 1 tháng 3, chỉ trong nửa tháng ngắn ngủi đó, tổng số tàu chiến của Hải quân Anh bị tàu ngầm Đức đánh chìm, khiến ngay cả Churchill, người vốn quyết tâm nghiến răng kiên trì đến phút cuối cùng, cũng phải cảm thấy choáng váng khi nhìn thấy.

Mất đi các kho lương thực ở vùng đồng bằng và một phần vật liệu chiến lược của quân đội tiền tuyến, mất đi toàn bộ lực lượng tinh nhuệ, những gì còn sót lại của chính phủ Anh giờ đây hoàn toàn không thể gây ảnh hưởng đến đại cục tấn công của quân Đức đổ bộ.

Hơn nữa, khi các đợt tiến công của quân Đức càng lúc càng sắc bén về phía nam, toàn bộ chiến tuyến càng gần khu vực phía Nam của Anh, các máy bay ném bom Đức có thể thường xuyên hơn cất cánh từ vùng Dunkerque để tiếp viện cho quân Đức đang tác chiến trên lãnh thổ Anh. Khi quân Đức kiểm soát ngày càng nhiều sân bay tiền tuyến, không quân Đức cũng tiếp viện kịp thời hơn bao giờ hết. Hàng trăm chiếc Hawker Hurricane mà Anh khó khăn lắm mới tích lũy được đã không bị mất đi trong các trận chiến chặn đứng máy bay ném bom chiến lược, mà lại dần dần bị tiêu hao hết trong các cuộc không chiến với các phi công át chủ bài của Đức lái những chiếc FW-190D cất cánh từ chính các sân bay ở Anh.

Lời cam kết của Mỹ dành cho Anh rất đơn giản: chỉ cần London có thể trụ vững ba tháng, thì Mỹ sẽ liên tục vận chuyển vật liệu chiến lược về Anh. Vô số máy bay chiến đấu và xe tăng sẽ giúp Anh đánh bại ba trăm ngàn, thậm chí năm trăm ngàn quân Đức đang tràn ngập trên lãnh thổ của mình, và cuối cùng Anh sẽ giành chiến thắng trong cuộc chiến chống Đức.

Thế nhưng, ngay cả Churchill, người lạc quan nhất, cũng không dám chắc có thể phòng thủ London được ba tháng. Ông ta thậm chí không biết rằng nếu biến nước Anh thành đống đổ nát, nếu biến các thuộc địa của Anh thành của Mỹ, thì liệu cuộc chiến này có còn được tính là chiến thắng của Anh nữa hay không.

Điều khiến Hoàng gia Anh và bản thân Churchill kinh hãi không phải là hàng trăm ngàn quân Đức đổ bộ đang ngày càng nhiều, mà là hai tiếng nói ngày càng lớn từ phía bắc. Ireland đang từ bỏ Hoàng gia và chính phủ Churchill ở miền bắc nước Anh, dốc toàn lực liên hệ với những người cầm quyền ở vùng núi phía bắc Scotland, chuẩn bị cùng Đức chia ba lãnh thổ Anh.

Trên thực tế, Nguyên thủ Đức đang rộng rãi "ném cành ô liu" cho Scotland ở miền bắc nước Anh, bày tỏ ý muốn cùng những người Anh và Ireland "thức thời" cùng nhau cai trị lãnh thổ Anh. Trong tương lai, lãnh thổ Anh sẽ được chia thành ba phần: Ireland, Scotland của Anh và miền nam Anh do Đức kiểm soát, và một nước Anh mới cùng Ireland đều sẽ là những phần quan trọng tạo nên "trục sắt thép châu Âu" của Đức.

Mặc dù Nguyên thủ Đức đưa ra không nhiều lợi ích, nhưng với ưu thế quân sự thực sự mà quân Đức đã tạo ra bằng họng súng của lính bộ binh và xích xe tăng của mình, thì điều đó thuyết phục hơn rất nhiều so với những lời đảm bảo trắng trợn của Mỹ. Những kẻ này đều đang chờ đợi thời cơ, khoảnh khắc quân Đức tiến vào London cũng chính là lúc chúng bước ra từ phía sau màn để lên nắm quyền. Chúng giống như chính phủ Vichy của Pháp, sẵn sàng đặt cược hai mặt để tìm kiếm lợi ích cho bản thân.

Những kẻ này mới thực sự là những người muốn lấy mạng Hoàng gia Anh và Churchill. Một khi chúng đứng ra, sẽ chia rẽ các thuộc địa của Anh, khiến toàn bộ Đế quốc Anh tan rã thành từng mảnh. Dù những kẻ này ở trong phe Đức không giúp được gì nhiều, nhưng chúng có thể thực sự gây họa cho Anh, khiến nước Anh phải nhả ra giọt máu cuối cùng. Đây mới chính là những kẻ "thành sự thì chẳng bao nhiêu, bại sự thì có thừa", những kẻ mà Churchill căm ghét hơn cả Nguyên thủ Đức, một lũ cặn bã.

Trong giới cầm quyền Anh lúc này, một bộ phận người đã bắt đầu hối hận. Họ hối hận vì sau thảm bại ở Dunkerque đã không lập tức bắt tay giảng hòa với Đức, hối hận vì đã mơ hồ để Hải quân Hoàng gia Anh tham chiến, vứt bỏ lợi thế hạm đội bản địa. Thế nhưng, vào thời điểm này, không ai dám là người đầu tiên đứng ra bác bỏ quyết định của Quốc vương và Hoàng gia, cũng không ai dám khiêu chiến Thủ tướng Churchill đang cận kề cái chết. Tất cả bọn họ đều đang chờ đợi, chờ khoảnh khắc quân Đức công chiếm London.

Tuy nhiên, lúc này Churchill và Quốc vương bệ hạ Anh không có tâm trí để bận tâm đến suy nghĩ của những kẻ "cỏ đầu tường" đó. Họ đang mạo hiểm nguy cơ đối đầu với Mỹ để vận chuyển một sư đoàn tinh nhuệ về Canada, giao cho Montgomery – người vừa mới đứng vững chân ở đó. Họ còn điều động những gì còn sót lại của Hải quân Hoàng gia Anh, chuẩn bị tổ chức một cuộc tấn công vào Iceland thuộc Đan Mạch, đưa ba mươi ngàn quân Anh đến đó, dùng làm quân bài cuối cùng của mình.

Bản quyền văn bản này thuộc về truyen.free, nơi những dòng chữ này được chắp cánh.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free