(Đã dịch) Đại Thời Đại 1958 - Chương 470: Từ trợ giúp bắt đầu
"Ta biết anh có quyết tâm làm thế, nhưng người Mỹ sẽ không hành động như vậy. Họ sẽ không dùng quân đội để giao chiến với chúng ta ở châu Phi, anh không cần lo lắng về điều đó!" Shelepin đưa ra phán đoán của mình. Sudan không có tầm quan trọng đến mức Mỹ nhất định phải can thiệp. Ngay cả khi Sudan hoàn toàn theo Liên Xô và trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa, tình hình đó cũng không giống như ở Việt Nam.
Nếu Sudan ở châu Phi thành công chuyển đổi sang chủ nghĩa xã hội, thì cùng lắm đó cũng chỉ là một quốc gia xã hội chủ nghĩa bị cô lập, không liên kết chặt chẽ với Liên Xô và Đông Âu. Tình thế đó, Mỹ hoàn toàn có thể chấp nhận, cùng lắm họ sẽ tìm cách gây bất ổn khu vực. Sẽ không có chuyện Mỹ trực tiếp ra tay, bởi vì một quốc gia độc lập bị cô lập, dù là đồng minh của Liên Xô, cũng không thể tạo ra ảnh hưởng lớn.
Tình hình Đông Nam Á phức tạp hơn vì có Trung Quốc đứng sau hậu thuẫn. Một khi Nam Việt sụp đổ, toàn bộ Đông Nam Á đứng trước nguy cơ "nhuộm đỏ", thậm chí cả châu Á có thể trở thành một dải các quốc gia xã hội chủ nghĩa liên kết, đẩy lùi thế lực Mỹ ra biển. Khi đó, Mỹ chỉ còn lại vài điểm tựa, việc đổ bộ tái chiếm sẽ vô cùng khó khăn. Chính vì vậy, Mỹ chắc chắn sẽ can thiệp, chỉ là họ đang tìm kiếm một cơ hội thích hợp để tham gia.
Liên Xô cũng đang tìm cơ hội tham gia. Mục đích của họ cũng tương tự Mỹ, vì sau Chiến tranh thế giới thứ hai, phong tr��o giải phóng dân tộc bùng nổ mạnh mẽ chưa từng có. Mục tiêu chính sách của Liên Xô đối với Đông Nam Á là lợi dụng mâu thuẫn giữa các quốc gia và nhân dân Đông Nam Á với chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Họ giương cao ngọn cờ chống đế quốc, chống thực dân, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, tìm mọi cách đưa ảnh hưởng của mình vào khu vực vốn truyền thống thuộc phạm vi thế lực của các cường quốc thực dân phương Tây, nhằm thiết lập chỗ đứng cho Liên Xô. Bởi vì Liên Xô không có nền tảng vững chắc trong khu vực Đông Nam Á, vừa không có quan hệ ngoại giao (ngoài Việt Nam và Thái Lan), lại không có giao thương đáng kể, đồng thời về mặt quân sự lúc bấy giờ cũng chưa đủ sức đối đầu với Mỹ và Anh.
Vì vậy, về mặt chiến lược, Liên Xô không mở rộng ảnh hưởng một cách toàn diện, mà lựa chọn thẩm thấu trọng điểm vào những khu vực nhất định. Trong giai đoạn này, đối tượng trọng tâm của Liên Xô để khuếch trương ảnh hưởng là các quốc gia theo chủ nghĩa dân tộc, thực hiện chính sách hòa bình trung lập sớm nhất ở Đông Nam Á: Myanmar và Indonesia. Myanmar nằm ở phía tây bán đảo Đông Dương, với khu vực đông bắc và phía bắc giáp với Trung Quốc. Từ sau ba cuộc chiến tranh Anh – Miến vào thế kỷ XIX, Myanmar trở thành thuộc địa của Đế quốc Anh. Nhân dân Myanmar đã trải qua cuộc đấu tranh lâu dài và anh dũng, cuối cùng thoát khỏi ách thống trị của Anh để giành độc lập. Vào giữa thập niên 1950, do sự xâm nhập của tư bản độc quyền nước ngoài, giá gạo – sản phẩm chủ lực của Myanmar – trên thị trường quốc tế sụt giảm. Nền sản xuất công nông nghiệp trong nước đình trệ, lạm phát tăng cao, khiến quốc gia này đối mặt với nhiều khó khăn kinh tế. Liên Xô đã nhân cơ hội này để mở rộng ảnh hưởng. Việc Liên Xô tiếp cận Myanmar được mở đường thông qua các chuyến thăm ngoại giao, ký kết hiệp định thương mại và cung cấp viện trợ kinh tế.
Giai đoạn thứ hai: Chiến tranh Việt Nam bắt đầu. Liên Xô tận dụng thời cơ Mỹ sa lầy vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam để tăng cường thực lực bản thân. Họ không chỉ thu hẹp khoảng cách về sức mạnh quân sự thông thường mà còn vượt qua Mỹ, đồng thời đuổi kịp Mỹ về vũ khí hạt nhân. Với sự tăng trưởng về sức mạnh quân sự và kinh tế, Liên Xô và Mỹ đã triển khai cuộc tranh giành gay gắt trên phạm vi toàn cầu. Căn cứ vào nhu cầu chiến lược toàn cầu, Liên Xô đã mở rộng ảnh hưởng một cách toàn diện tại khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn này.
Đối với Indonesia, Serov đã sớm định liệu. Nhưng việc Myanmar lại có quan hệ tốt với Liên Xô trong giai đoạn này là điều Serov không ngờ tới. Tuy nhiên, suy nghĩ kỹ thì ông cũng hiểu ra nguyên nhân, đó là câu châm ngôn "xa giao gần công" (kết giao với nước xa để chống lại nước gần). Chính phủ Myanmar muốn mượn ảnh hưởng của Liên Xô để đối phó với Đảng Cộng sản trong nước. Bản thân Mỹ không thể giúp họ điều này. Thời điểm đó, Liên Xô là một quốc gia xã hội chủ nghĩa mạnh hơn Trung Quốc, nên việc mượn ảnh hưởng của Liên Xô để kiềm chế Đảng Cộng sản được Trung Quốc hậu thuẫn là một mũi tên trúng hai đích.
“Suýt nữa thì tôi quên mất, hiến pháp Myanmar cũng quy định họ là một quốc gia xã hội chủ nghĩa! Giống như Ấn Độ vậy.” Serov rời khỏi nhà Shelepin, trăn trở suy nghĩ về vấn đề Đông Nam Á một lúc lâu, cuối cùng lắc đầu gạt bỏ những ý nghĩ đó. Tốt nhất là mỗi lần chỉ giải quyết một vấn đề. Nếu đã quyết định tiến hành chính biến ở Sudan, vậy thì phải tính toán thật kỹ lưỡng.
Tại văn phòng Chủ tịch KGB ở số 11 Quảng trường Lubyanka, Serov vừa nhận được một bức thư phản đối từ tùy viên quân sự Đại sứ quán Mỹ. Bức thư này vốn gửi cho Bộ Ngoại giao, nhưng lại liên quan trực tiếp đến KGB. Chuyện là thế này: Trong thời gian chiến tranh Trung – Ấn, khi Serov đang ở Ấn Độ, có một người Mỹ, không rõ là do say rượu hay vì lý do gì khác, đã la to trước cổng trụ sở KGB rằng Dzerzhinsky là một kẻ đồ tể và KGB là một tổ chức khủng bố. Vì vậy, sau khi hoàn thành "nhiệm vụ tối thượng mà ngay cả người Liên Xô cũng không dám nghĩ đến" này, người Mỹ đó đã bị các nhân viên phản gián đang tuần tra ở trụ sở tóm gọn và tống thẳng vào nhà tù của Tổng cục.
Ngày hôm qua, vị “anh hùng” nước Mỹ này, có lẽ vì tinh thần chưa ��ạt đến chuẩn mực của một anh hùng, đã tự sát ngay trong nhà tù. Quả là một câu chuyện bi thương! Với tâm trạng tiếc nuối (châm biếm), KGB đã bàn giao thi thể của người Mỹ này – người chưa kịp chấp hành hết hình phạt – và mỉa mai: “Đến cả dũng khí đập đầu vào tường tự sát còn có, sao không thể chấp hành xong án phạt rồi đợi v�� nước chứ?” Serov bĩu môi đọc xong thư phản đối của Đại sứ quán Mỹ, rồi tiện tay ném bức thư vào sọt rác.
“Chủ tịch, chúng ta sẽ giải thích với người Mỹ thế nào đây?” Kadebov, người vừa được thăng chức Cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Mật – đơn vị phụ trách quản lý nhà tù nội bộ Lubyanka, hỏi Serov với vẻ mong chờ thái độ của ông.
“Giải thích ư? Ai có thời gian rảnh rỗi mà đi giải thích với họ?” Serov khoát tay, tỏ vẻ chẳng màng chuyện lớn nhỏ thiên hạ, nói lớn: “Bêu xấu đồng chí Dzerzhinsky chính là bêu xấu KGB. Căn cứ các quy định pháp luật liên quan, chúng ta có quyền bắt giữ người, và án phạt đối với người nước ngoài còn bị tăng gấp đôi. Tại sao phải giải thích? Chúng ta đâu có ngược đãi hắn, tự hắn yếu bóng vía mà tự sát thì trách ai? Người Mỹ nếu bất mãn thì cứ tìm đến tôi, nhưng tôi đoán ngoài việc bêu xấu chúng ta trên báo chí ở Mỹ ra, họ cũng chẳng có cách nào khác. Đừng đa nghi, cứ làm tốt việc của mình rồi về đi…”
Về chuyện chính biến, Serov tìm gặp Sakhatovsk, Phó Chủ tịch thứ nhất kiêm Cục trưởng Cục một. Chức danh Phó Chủ tịch thứ nhất của KGB được chia ra phụ trách đối nội và đối ngoại. Hiện tại, Itevasov đang bận rộn với một nhiệm vụ khác: chỉ đạo các tổng cục lớn trấn áp những thuyết âm mưu về cái chết của Kennedy. Serov là người tung các thuyết âm mưu ra ngoài, còn Itevasov thì phụ trách bắt giữ những người tin theo. Hai người này, kẻ tung người hứng, đã đổ thêm dầu vào lửa, đẩy các thuyết âm mưu lên đến cao trào.
Do sự trấn áp của KGB, thậm chí xuất hiện những tin đồn về việc có gián điệp phương Tây trong nội bộ KGB. Lubyanka còn nhận được thư gửi đến, yêu cầu Chủ tịch Serov chú ý đến vấn đề kẻ thù nội bộ, cho thấy sự cảnh giác của nhân dân Đại Xô Viết cao đến mức nào. Những nỗ lực giáo dục phản gián và tuyên truyền trong lĩnh vực này tuyệt đối không hề uổng phí, dù không thể phủ nhận Liên Xô có tồn tại lực lượng “đội quân thứ năm” tiềm ẩn, nhưng đa số nhân dân vẫn duy trì mức độ cảnh giác cao.
“Mỗi khi bắt đầu một động thái lớn, trong lòng tôi đều không tránh khỏi có chút căng thẳng.” Ngồi trong một chiếc xe con, Serov và Sakhatovsk cùng ngồi ở phía sau, ông nhìn cảnh vật bên ngoài rồi bộc bạch.
“Điều đó là bình thường thôi. Chúng ta đều hiểu tầm quan trọng của Sudan. Nếu thất bại, không chừng chúng ta sẽ bị Bí thư thứ nhất trừng phạt, và khoản nợ ở Sudan chắc chắn sẽ đổ lên đầu KGB. Rủi ro này liệu có đáng để mạo hiểm không?” Sakhatovsk hỏi Serov, “Yuri à, anh mới ba mươi lăm tuổi đã là Ủy viên Trung ương, Chủ tịch KGB, có hàm Thượng tướng, có Huân chương Anh hùng Liên Xô, lại được Bí thư thứ nhất trọng dụng, hà cớ gì phải làm vậy chứ? Ngay cả khi Sudan cuối cùng xa lánh chúng ta, trách nhiệm cũng thuộc về quốc gia, sẽ không đổ lên đầu anh đâu!”
Tuy nhiên, nếu Liên Xô mất Sudan vì hành động của KGB thất bại, thì trách nhiệm này chắc chắn thuộc về KGB. Một Serov bình an vô sự chắc chắn sẽ không gánh trách nhiệm, nhưng nếu phải đối mặt với nguy cơ mất Sudan, lên kế hoạch chính biến để đưa thế lực thân Liên Xô lên nắm quyền – thành công thì là một công lao lớn, thất bại thì là một gánh nặng trách nhiệm to lớn. Đạo lý này không khó hiểu.
“Vì tôi đang bị sói đuổi phía sau,” Serov không trực tiếp trả lời câu hỏi của Sakhatovsk, bởi vì ông không thể trả lời. Chẳng lẽ ông phải nói rằng trong tình huống bình thường Liên Xô sẽ không thắng ư? Rằng nhất định phải mạo hiểm và thận trọng tấn công ư? Nói ra thì chẳng ai tin, cả khối Liên Xô lúc bấy giờ có không ít người vẫn tin rằng chiến thắng chắc chắn thuộc về về phe mình.
Không lâu sau, hai người đến nơi. Đó là một căn cứ không quân, bên trong đậu mười hai chiếc trực thăng vận tải hạng nặng Mi-6. Đây là số vũ khí Serov phải rất khó khăn mới “xin” được Bộ Quốc phòng viện trợ, và chúng được dùng riêng để cung cấp cho quân đội Sudan.
Trực thăng vận tải hạng nặng Mi-6 có tổ lái gồm 5 người: phi công chính, phi công phụ, hoa tiêu, kỹ sư cơ khí (hoặc kỹ thuật viên), và điện báo viên. Buồng lái có bốn cửa thoát hiểm có thể tháo rời. Hai cửa khoang hành khách nằm ở phía trước và phía sau bánh đáp chính bên trái. Phần thân phía sau máy bay có cửa khoang hàng hóa dạng vỏ sò và bệ dốc có thể gập lại, dùng để chất dỡ hàng hóa và xe cộ. Cửa khoang hàng và bệ dốc có thể được mở hoặc đóng bằng ống thủy lực. Sàn khoang hàng có khả năng chịu tải 19,6 kN/m² và được trang bị hệ thống móc cố định. Trên sàn còn có một cửa khoang trung tâm, dùng để treo các hàng hóa cỡ lớn bên ngoài. Để thuận tiện cho việc chất dỡ hàng hóa và xe cộ, các ghế ngồi hai bên khoang lái có thể gập lại. Bên trong khoang hàng, máy bay được trang bị một hệ thống tời điện và ròng rọc có khả năng chịu tải 800 kg.
Sau khi hai người lên trực thăng Mi-6 hạng nặng kiểm tra và thấy không có vấn đề gì, họ liền xuống xe và bày tỏ sự hài lòng. Quả không sai, kế hoạch chính biến ở Sudan sẽ bắt đầu bằng việc viện trợ. Một mặt, điều này thể hiện Liên Xô vẫn đang “nuông chiều” Sudan, đồng thời khiến Tướng Abboud giảm bớt cảnh giác đối với Liên Xô; mặt khác, số vũ khí này sẽ được dùng để trang bị cho binh lính tham gia chính biến.
Trực thăng vận tải hạng nặng Mi-6 có thể dùng cho cả mục đích quân sự và dân sự, vừa có thể chiến đấu vừa có thể vận chuyển. Việc cung cấp loại vũ khí này cho Sudan tốt hơn là chỉ viện trợ trực thăng vũ trang đơn thuần, giúp giảm bớt sự coi trọng của Tướng Abboud đối với chúng. Tuy nhiên, trên thực tế, chỉ cần dự trữ đủ linh kiện, đến lúc đó chúng hoàn toàn có thể được sử dụng làm trực thăng vũ trang ngay tại thủ đô Sudan. Về phần đội hình trực thăng vũ trang này, Serov đã chọn xong các chỉ huy từ nửa năm trước, trong số những người trở về Sudan, và họ đang hoạt động bí mật ở đó.
Đợt chính biến lần này sẽ bắt đầu từ viện trợ. Không chỉ về trực thăng, mà một số đơn vị quân đội nhỏ xung quanh thủ đô Sudan cũng sẽ nhận được hỗ trợ kỹ thuật và trang bị từ phía Liên Xô.
Bản dịch này được thực hiện bởi truyen.free, nơi những câu chuyện trở nên sống động.