Cà phê hay trà? - Chương 1: Chapter 1: Cuộc sống sau kỳ
Con thuyền cứu hộ cố gắng bám trụ cái thân phổng phao của nó trước đợt sóng dữ tợn. Dù biết rằng chuyến đi này có lẽ sẽ không thể trở về nhưng con thuyền vẫn lao đi trong cơn cuồng nộ khủng khiếp của một người đầy giận dữ. Vì ở trên đó là những trái với những nghĩa vụ còn cao cả hơn cả chính mạng sống của mình.
Từng cơn sóng đậm đặc màu đất mỗi giây mỗi phút lại tát vào cái mạn béo ú nụ trong cơn rít gào của gió bão, cơn mưa như nước rơi xối xả xuống nhân gian như những viên đạn hiểm độc, làm mắt con người ta mờ nhòe đi. Nhưng ở đâu đó, tôi vẫn nghe thấy tiếng kêu cứu xé lòng xé dạ ở mái nhà nào đó, một người mẹ, người con và người đàn ông đang cố chống đỡ đang chờ đợi những cánh tay giang rộng, cứu vớt họ trong cơn hoạn nạn khôn cùng này.
Những người đồng chí, những người anh em dũng cảm không ngại hiểm nguy đang tính toán mức độ chảy của dòng nước và sức gió để đảm bảo việc di chuyển sao cho thật trót lọt.
Chà, đi cứu người thì dễ thôi, còn đưa họ về như thế nào mới khó. Vậy nên cần phải điều khiển thật khéo, và còn phải né cả những cái cây ngập sâu dưới dòng nước dữ dội này nữa. Nên dù ruột gan có nóng như lửa đốt cũng phải từ từ, không thì lại hỏng hết cả việc.
Trong cái tầm nhìn mờ nhạt dưới cơn giông tố này, tôi báo với anh em rằng mình đã thấy một mái nhà. Ở đó, có một bàn tay đang đưa ra và cảm tưởng rằng mình đã nghe thấy tiếng kêu cứu. Bọn tôi điều thuyền tới, quả thật đã phát hiện ra tiếng kêu cứu của một người phụ nữ.
Không chần chừ lấy một giây, tôi trèo lên mái nhà, thông qua cái lỗ trên mái để xem xét tình hình của người phụ nữ. Và tệ một chỗ, ở đây không chỉ có một mình cô mà còn có một toán những trẻ em lấm lét và run rẩy đang nhìn mình. Không thể không khen ngợi rằng, cô ấy thực sự rất nỗ lực khi không khiến bọ trẻ khóc lóc trong cái thời tiết cực đoan này. Khi đảm bảo rằng tình hình về con người hoàn toàn ổn, tôi kêu gọi đồng đội đến hỗ trợ, bọn tôi đập cái lỗ trên mái nhà cho rộng thêm ra, tôi nhảy xuống, hỗ trợ cô ấy mặc toàn bộ đồ phòng hộ còn có trên thuyền cho bọn trẻ. Chúng tôi vừa phải liên tục động viên vừa dỗ dàng đám trẻ ổn định lại cảm xúc để đưa chúng ra khỏi căn phòng có thể ngập nước bất cứ lúc nào. Cho đến khi đưa đứa cuối cùng lên. Thì nhận được tin dữ, thuyền đã quá tải và không còn sức để chứa thêm người, vì vậy sẽ chỉ còn tôi hoặc cô gái mà tôi vừa gặp có cơ hội rời khỏi nơi này. Tồi tệ hơn nữa, một cơn lốc xoáy có một không hai trong lịch sử của đất nước đang tiến về phía này.
Và có lẽ lúc này thôi, tôi nghĩ đã đến lúc sự ga lăng của một người đàn ông lên tiếng. Chẳng cần nghĩ ngợi thêm tôi xác người cô ấy lên mà chẳng tốn mấy sức lực – nếu cô ấy không cố chống cự quyết liệt rằng tôi nên là người đi khỏi nơi này. Nhưng một cô gái với sức lực đã cạn kiệt làm sao đọ lại với một chiến sĩ công an được chứ. Chẳng mất mấy công, tôi đã giao cô ấy lại cho người anh em của mình.
"Nhớ quay lại đón tôi đấy. Và cô nợ tôi một buổi đi cà phê đấy!"
Tôi cười với họ.
"Và đừng nhìn tôi với kiểu như tôi sắp chết đến nơi như vậy. Đừng có mơ, thằng này nhất định phải sống tới một trăm linh năm tuổi mới buông xuôi được. Nên đi đi, và nhớ quay lại đây đón tôi đấy!"
Nhìn bóng lưng họ rời đi. Cuối cùng, tôi ngồi bệt xuống sàn nhà lạnh lẽo chờ đợi thời gian kết thúc đang tới dần.
Đó là tất cả những gì tôi còn nhớ được trong những dòng hồi ức mờ nhạt, sau khi luân hồi chuyển kiếp thành một đứa trẻ non thơ của một gia đình nông thôn tại một đất nước nào đó. Vài năm đầu đời là một cực hình khủng khiếp nhất mà một con người có nhận thức thật sự sâu sắc nào có thể trải qua, sự mất nhận thức cho đến khi dần dần cảm nhận được thế giới quan trong sự bất lực khôn cùng không lời nào có thể diễn tả. Tôi đã sống trong sự vất vưởng, vô nghĩa và sự hoài nghi khủng khiếp với thứ gọi là kiếp sau. Nhưng rồi cũng dần chấp nhận nó sau tám tháng bị nhồi sữa mẹ vào mồm, nó dở, không phải kiểu tệ, mà nó lờ lợ như sữa không đường và tôi không thích mấy thứ nó nhạt nhẽo.
Bốn năm sau khi kiểm soát hoàn toàn cơ thể của mình. Đó là giây phút hạnh phúc nhất, đáng tự hào nhất cuộc đời tôi. Khi không còn phải bú sữa hay ị đùn ra quần nữa. Thành thật đấy, không ai muốn thấy mông mình dính cái như nhớp nháp và ô uế ấy ở sau đít mình đâu.
Sau này, tôi dần học được cách đọc vị chuyển động của môi, rồi bắt chước mà phát âm theo. Thế là tôi bắt đầu biết nói. Bạn không thể tưởng tượng nổi niềm vui của những người đã sinh ra tôi ở kiếp này. Họ đã khóc những giọt nước mắt trong veo, run rẩy rơi xuống vì hạnh phúc. Đó là thứ tình yêu thuần khiết, vô điều kiện, chỉ có cha mẹ mới có thể dành cho đứa con của mình.
Lên năm tuổi, tôi bắt đầu phụ giúp gia đình mới bằng những gì trong khả năng của một đứa trẻ bình thường. Ít nhất thì tôi cũng không muốn ăn cơm không của cái nhà này.
Thật ra, mấy việc lặt vặt như quét nhà, rửa bát hay bóp vai cho hai người họ chẳng đáng là bao. Tôi biết mình cần phải lớn nhanh hơn, đủ sức làm được nhiều việc hơn và quan trọng nhất là thuyết phục họ đầu tư cho tôi đi học.
Lần đầu tiên tôi nói ra điều đó, cả hai người đều tròn mắt nhìn tôi, như thể đứa trẻ trước mặt chẳng phải con họ vậy. Cũng dễ hiểu thôi, ở cái thời mà mọi thứ chỉ vừa chạm ngưỡng cận đại này, chuyện cho con cái đi học vẫn còn là điều thật kỳ đối với những gia đình nông dân. Hoặc có thể một đứa trẻ lại có hứng học hành là một điều gì đấy phi thực tế.
Bởi trong suy nghĩ của họ, đi học chỉ là sự phí phạm thời gian.
Một đứa trẻ biết ra đồng sớm vẫn hữu ích gấp vạn lần so với việc ngồi hàng giờ để ghi nhớ những con chữ phức tạp chẳng mấy khi dùng đến. Nhưng tôi đâu có ý định gắn bó cả đời với những thửa ruộng. Tôi đã phải tốn không ít lời lẽ để thuyết phục họ cho mình được đi học.
May mắn thay, họ vẫn đủ kiên nhẫn để lắng nghe và đủ bao dung để cho phép tôi tham gia lớp học vỡ lòng do nhà thờ dựng lên ở cái thôn nghèo xác xơ này. Nơi vừa để truyền đạo, vừa là chỗ dạy lũ trẻ biết đọc, biết viết, để rồi sau này trở thành những tín đồ ngoan đạo của thần thánh.
Mặc dù tôi chẳng ưa gì cái cách họ cố nhét vào đầu người khác những câu chuyện điển tích về các vĩ nhân - mà tôi dám chắc quá nửa trong số đó được thêu dệt ra để nâng tầm tôn giáo của họ và gây ấn tượng với đám trẻ con chưa đủ nhận thức - nhưng phải công nhận, họ không tệ chút nào. Những tu sĩ ở đây sẵn sàng xắn tay áo làm việc đồng áng, giúp đỡ người khốn khó sau mỗi buổi truyền giáo về lòng nhân ái, về cách con người nên yêu thương và bảo vệ lẫn nhau.
Vậy nên nhà thờ đã xây dựng lên một danh tiếng vững chắc cùng sự đáng tin cậy. Đã có không ít gia đình cho con em mình đến đây để biết mặt chữ mặt cái, để sau này còn có cái mà oách với nhà khác.
Mặc dù lớp vỡ lòng có thu học phí, nhưng cũng không quá đáng kể và phụ huynh cũng có thể lấy hiện vật ra để trả cho nhà thờ.
Thế là, tôi đến lớp. Và cái lớp đấy ồn như một cái chợ, mặc cho các tu sĩ có răn đe hay mềm mỏng như thế nào thì cái đám bát nháo đấy vẫn quyết định quậy banh chành cả cái nhà thờ đấy như thể đây là nhà của chúng nó chứ không phải nơi tiếp thu kiến thức và học tập những điều mới mẻ vậy. Đó là lý do tại sao tôi ghét trẻ em hư, ghét cay ghét đắng cái cách mà chúng dùng cái sự non nớt của chúng để làm cái bình phong cho cái sự hỗn hào bố láo đấy. Chúng nó tưởng thế là vui à? Biết cái gì vui hơn không, đó là khi tao mặc bộ đồng phục công an và đi dọa mấy đứa nhóc hư như chúng mày đấy. Mua hahaha!
Sau vài tuần, tôi cũng dần quen với tiếng ồn ào và việc chạy nhảy của chúng nó trong giờ học. Các tu sĩ thì không thể làm gì chúng nó khi điều ấy vi phạm vào một trong những điều lệ tối kỵ là không được phạt hay gây tổn hại đến trẻ em: Trẻ em là những đóa hoa vô tội không nên bị vấy bẩn bởi bất cứ hình thức trừng phạt nào.
Còn lý do tại sao tôi lại biết các điều luật này. Đó là vì tôi đã cố tình tiếp cận chúng bằng một hình thức cực kỳ tinh vi mang tên sự thu hút của trẻ em, tôi đã cố tình tiếp cận nhiều tu sĩ bằng cách giúp đỡ họ bằng vài việc lặt vặt cũng như ghi lại những ấn tượng sâu đậm về một học trò ngoan ngoãn, lễ phép và sùng đạo. Ồ, vâng chắc chắn là tôi đã phải cày nát những cuốn kinh sử và điển tích của nhà thờ trong suốt bảy bảy bốn bốn chín mươi chín giờ (cụ thể là hai ngày để nắm sơ mọi thứ) để có thể làm được điều đó rồi. Nhờ thế mà tôi được ưu ái hơn và được tiếp cận nhiều kiến thức hơn, ví dụ như địa lý và lịch sử, mặc dù còn rất nhiều từ trong số đó tôi vẫn chưa thể dịch và đọc được.
Nhưng nhiêu đó là đủ để biết được nơi mà mình đang sống là ở đâu. Thôn làng của tôi nằm ở trên vùng đất Clanta. Hết.
Cứ thế mọi thứ trôi đi trong sự êm đẹp của thời gian và không gian. Tưởng chừng như mình sẽ cứ thế sống trong sự nhàm chán của thời đại cũ kỹ này. Một luồng gió mới đã xuất hiện mà thổi tới một luồng sống mới. Có thể tốt, có thể xấu. Nhưng nó khá mới mẻ.
-0-0-0-0-
"Xin giới thiệu với các em, một bạn nhỏ sẽ cùng đồng hành với lớp chúng mình trong thời gian tới."
"Mời em vào."
Vào một khoảng thời gian nhất định, lớp vỡ lòng của nhà thờ sẽ tiếp nhận thêm vài đứa trẻ mới sau khi vài đứa quyết định thôi học sau khi cha mẹ chúng thấy học hành đến thế là đủ, mà xách đít chúng nó đi ra đồng.
Tôi thì chẳng thấy háo hức như đám trẻ xung quanh, những kẻ đang rì rầm đoán xem đó sẽ là ai trong làng. Dẫu vậy, tôi vẫn phải gượng cười, giả vờ hồ hởi để khỏi bị lạc nhịp với tập thể. Dù việc đó khiến tôi cảm thấy khúm núm đến mức các lỗ chân lông phải dựng đứng hết cả lên.
Đúng là xã hội nào cũng có cách riêng để ép con người ta vừa vặn với khuôn khổ của nó.
Đứng bên cạnh tu sĩ Candara lúc này là một bé gái có vẻ ngoài tương đối xinh xắn, mái tóc đen suôn mượt để dài đến thắt lưng được buộc đuôi ngựa với điểm nhấn là cái nơ màu hồng sau đầu, con bé mặc bộ váy màu xanh lá cây với những đường kẻ caro màu đen, chân đi đôi giày da màu đen bóng loáng. Với cử chỉ lịch thiệp và lời nói phải phép. Tổng thể là con bé này là con nhà giàu được giáo dục từ bé.
"Xin chào các bạn, con xin được giới thiệu với tu sĩ và các bạn tên của con là Charlotte Von Gandma."
Ô sờ kê, nghe thế đủ rồi. Nhìn kiểu gì thì con bé này cũng sẽ rời khỏi cái lớp này trong vài tháng để chuyển đến trường quý tộc thôi.
"Rất lễ phép và ngoan ngoãn. Các con nên học hỏi thêm những đức tính tốt đẹp này từ bạn Gandma," tu sĩ Candara mỉm cười nói. "Và thầy mong các con sẽ giúp đỡ bạn ấy nhiều hơn trong thời gian tới, để vun đắp tình bạn đẹp đẽ."
Cả lớp, trong đó có cả tôi, đồng thanh đáp "Dạ vâng", khiến tu sĩ Candara gật gù đầy hài lòng. Ông bắt đầu đảo mắt tìm chỗ ngồi cho Charlotte. Ngay lập tức, hàng loạt bé gái giơ tay, tranh nhau xin được ngồi chung với bạn mới. Còn đám con trai thì im thin thít, mặt đứa nào cũng lảng đi chỗ khác. Ở cái tuổi này, đứa con trai nào dám ngồi cùng bàn với con gái là y như rằng sẽ bị gán cho mác "đồng bóng", rồi bị cả lũ cô lập cho xem.
"Vậy con sẽ ngồi cùng bạn..."
Sao ông lại vào vào tôi vậy hả tu sĩ?