(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 668: Sang sông
Sáng hôm sau, một tiểu đội bộ binh Thiên Đức vũ trang đầy đủ, cùng hơn chục con ngựa thồ lương thực, dừng chân trước cổng chùa Hương Chản. Từ trong chùa, hai nhà sư vội vã chạy ra đón đoàn binh, nhưng rồi sững sờ khi thấy Quan Lam Giang, trong trang phục khăn mỏ quạ và áo tứ thân, đứng đầu đoàn người. Lam Giang chắp tay búp sen, cúi đầu chào hai nhà sư. Ngay sau đó, binh sĩ mở toang cánh cổng chùa đã cũ, dắt ngựa vào trong.
– Quan gia công đức cho nhà chùa 5 nén vàng thỏi, 10 nén bạc, 5 tạ gạo trắng, 50 cân muối tinh, 10 cân đường, 1 tạ khoai lang, 1 tạ sắn và 20 xấp vải.
Quan Lam Giang cầm tấm vải màu vàng, đọc vanh vách danh sách những món đồ công đức cho nhà chùa. Hai nhà sư đứng cạnh, mắt tròn mắt dẹt kinh ngạc, nhất thời chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra. Đọc xong, Quan Lam Giang kính cẩn cúi người trao lại tấm vải cho nhà sư. Hai nhà sư luống cuống một hồi mới dám nhận.
– Nữ thí chủ! Quan gia công đức cho nhà chùa nhiều như vậy, chẳng hay quý danh của ngài là gì để nhà chùa tạc bia ghi nhớ công đức?
Quan Lam Giang từ tốn đáp:
– Quan gia là giám quân Thiên Đức. Hôm nay tiểu nữ vâng mệnh Quan gia đến chùa, trước là công đức, sau là để đưa đám trẻ mồ côi đi.
Hai nhà sư giật mình, một vị vội hỏi:
– Chẳng hay Quan gia muốn đưa lũ trẻ đi đâu? Nhà chùa đã cưu mang chúng, nếu muốn đưa đi cũng phải cho nhà chùa biết rõ mọi chuyện. Lỡ mai sau cha mẹ chúng tìm đến đòi con, nhà chùa biết giải thích sao đây? Dù thế nào, nhà chùa cũng không bán trẻ con.
Lam Giang không vội đáp lời. Nàng lấy khăn lau những giọt mồ hôi lấm tấm nơi thái dương. Hai nhà sư sực nhớ, vội mời Quan Lam Giang vào nhà tả vu dùng nước. Ngồi yên vị trên trường kỷ tre, Lam Giang mới cất lời:
– Nhà chùa có lòng Bồ tát, cưu mang đám trẻ mồ côi. Nhưng trẻ đông quá, nhà chùa chăm nom chẳng xuể, còn sao nhãng cả việc kinh kệ. Quan gia xét thấy, do chiến tranh loạn lạc, bách tính đói khổ, cha lìa con, vợ lìa chồng, phần nào cũng là lỗi của quan quân Thiên Đức. Quan gia quyết định đón lũ trẻ về nuôi nấng, cho cơm no áo ấm, học chữ để sau này thành người tài. Các thầy chớ lo lắng.
Vị sư từng làm lễ cho người phụ nữ xấu số bên lò gạch bỏ hoang, pháp danh Đàm Phúc, sau khi nghe Lam Giang nói vậy, suy ngẫm giây lát rồi đáp:
– Sư cụ đã viên tịch, chùa lại chưa có trụ trì. Bần tăng không thể tự quyết việc này, mong nữ thí chủ lựa lời nói khó với Quan gia giúp cho nhà chùa.
Giọng Quan Lam Giang đều đều:
– Tiểu nữ đến đây để thông báo và đón đám trẻ cùng đi. Nhà chùa có thể giữ lại vài đứa có duyên. Giả như cha mẹ chúng đến chùa nhận lại con, khi ấy nhà chùa cứ bảo họ đến quân doanh gần nhất tìm tiểu nữ. Tiểu nữ họ Quan, tên húy Lam Giang.
Sư Đàm Phúc tỏ vẻ không bằng lòng, định phân bua thì Lam Giang nhoẻn miệng cười, chỉ vào tấm vải màu vàng đang gấp tư trên bàn, trước mặt sư Đàm Phúc, nàng nhẹ giọng:
– Nhà chùa ngày lo trẻ nhỏ, đêm lo kinh kệ, bộ dạng tất bật chẳng khác nào nuôi con mọn, chắc đã quên rồi chăng?
Sư Đàm Phúc ngẩn người, cẩn thận giở tấm vải màu vàng ra xem, nhưng chẳng đọc được chữ nào ghi trên đó, cũng chẳng thấy dấu triện đóng. Nhà sư lật qua lật lại vài lần, thấy không có gì lạ, bèn chắp tay nói với Lam Giang:
– Bần tăng không đọc được nội dung này, nhờ nữ thí chủ giảng giải giúp.
Quan Lam Giang tủm tỉm cười. Nàng đứng dậy cúi đầu chào hai nhà sư. Bước ra đến bậc cửa, Lam Giang ngoảnh lại nói:
– Thiên hạ sắp đổi chủ, nhà chùa cũng nên học chữ Vạn Xuân thôi. Tự cổ chí kim, theo thuyết Ngũ hành, màu vàng tượng trưng cho hành Thổ, là trung tâm. Vua là người đứng đầu, cai quản tứ phương nên ngoài phẩm phục, các vật dụng cá nhân của vua đều sử dụng màu vàng.
Dứt lời, Quan Lam Giang bỏ mặc hai nhà sư đang ngơ ngác đứng bên bậc cửa.
Binh sĩ tập trung đám trẻ trên khoảnh sân trước tăng phòng. Dẫu không cam tâm, hai ni sư già vẫn phải giao cả những đứa bé còn ẵm ngửa cho binh sĩ.
Vẻ mặt Lam Giang tươi cười, nàng bước đến xoa đầu từng đứa, dúi vào tay chúng một cái kẹo mạch nha to bằng hai ngón tay. Đám trẻ chẳng đứa nào biết đó là gì, cũng chẳng thiết quan tâm, bởi chúng sợ đến nỗi chẳng dám khóc.
– Nữ thí chủ, Quan tiểu thư, Quan tiểu thư!
Hai nhà sư hớt hải chạy đến. Quan Lam Giang bước lại, nét mặt tươi tỉnh, dường như nàng cố nén tiếng cười khi trông thấy bộ dạng hớt hải của hai nhà sư vừa chăm trẻ mọn.
Sư Đàm Phúc ngập ngừng:
– Vị đại nhân hôm qua đến chùa…
Lam Giang ngắt lời:
– Hai thầy nghĩ thế nào thì chính là thế ấy. Thiên hạ sẽ mang họ Mạc. Nhà chùa hãy biết cách làm gì và làm như thế nào để bách tính bớt sợ, bớt khổ. Giả như mai sau bách tính đói khổ tìm đến chùa, nhà chùa mở lòng từ bi cứu tế, nếu cần lương thực thì hãy tìm đến quân doanh gần nhất để được trợ giúp.
Đám trẻ được đưa ra cổng chùa, chỉ có ba đứa chừng bảy, tám tuổi ngỏ ý muốn ở lại. Lúc bấy giờ, một binh sĩ do Lam Giang cử đi thắp hương ở nấm mộ cạnh lò gạch vội vã chạy đến thì thầm điều gì đó vào tai nàng. Lam Giang thoáng biến sắc, nàng ngoảnh nhìn về phía lò gạch đằng xa một lúc, đoạn bước đến nói với sư Đàm Phúc:
– Nấm mộ hôm qua, chỉ sau một đêm mà mối đã đùn lên thành một đống, hai đứa trẻ song sinh ắt có phúc khí lớn. Nhờ nhà chùa xây cất, sớm tối hương khói, để sau này con cháu họ tìm về.
Đoàn người ngựa nối nhau lặng lẽ rời đi trong nắng sớm.
Sư Đàm Phúc chạy ra xem nấm mộ đất, quả nhiên chỉ sau một đêm, mối đã đùn cao ngất. Hai nhà sư trở lại chùa lấy gạch, chạy sang làng gần đó xin vôi cát, rồi tự tay xây cất ngôi mộ. Đầu giờ chiều, khi hai nhà sư đang dở tay thì có toán binh Thiên Đức đến giúp. Sau khi xây mộ xong, họ còn giúp nhà chùa dựng lại cổng, quét vôi, sửa nhà treo chuông rồi rút đi vào chiều hôm sau.
Sau một ngày rong ruổi, Chương trở về đại bản doanh vào chiều muộn cùng hai đứa trẻ sơ sinh. Bàn thảo với Thiên Bình xong xuôi, Chương quyết đ��nh thành lập Trung tâm Thiếu sinh quân chuyên thu nhận, nuôi nấng trẻ mồ côi, trẻ em nghèo và cả con em của các tử sĩ. Trẻ dưới 7 tuổi sẽ giao cho quân Th���n Vũ chăm sóc; khi đủ 7 tuổi sẽ học tại Trường Thiếu sinh quân. Trung tâm và trường học đầu tiên sẽ đặt tại Tế Giang. Đồng thời, Chương cũng quyết định rằng, trong các cuộc chinh phạt, mọi trẻ em dưới 6 tuổi lạc cha mẹ hoặc cha mẹ chết trong chiến loạn đều sẽ được đưa về các Trung tâm Thiếu sinh quân.
Hôm sau, sau khi nghe Lam Giang trình bày việc nấm mồ thân mẫu hai đứa bé kết mối, Liễu Môn Nhân liền tâu rằng:
– Đó là điềm lành, mả táng nơi đất tốt. Hai đứa trẻ được Đại Vương đưa về, sau này ắt sẽ hiển đạt. Theo thiển ý của bỉ nhân, Đại Vương nên cho xây cất nấm mồ ấy thì hơn.
Chương nhoẻn miệng cười, bảo Lam Giang:
– Mọi chuyện dường như đã định sẵn cả rồi! Từ nay em sẽ là mẹ nuôi của chúng, thế nào?
Lam Giang bối rối, nàng ngập ngừng:
– Em chưa có danh phận, chưa có con cái. Việc nhận nuôi hai đứa trẻ tuyệt không có vấn đề gì nhưng… chúng sẽ mang họ gì đây?
Chương bảo Lam Giang lại gần, nhỏ giọng:
– Em là thiếp của ta, hai đứa tất nhiên sẽ mang họ Mạc. Em hãy suy tính đặt tên cho chúng, dạy dỗ chúng trở thành rường cột quốc gia sau này. Còn chuyện phong phi tần, để ta vào thành bố cáo với thiên hạ.
– Vậy… sau này có nên cho chúng biết gốc tích hay không, vương thượng?
Chương nói, giọng chắc nịch:
– Con người có tổ có tông, không có gốc tích là không được. Chúng ta không cần phải giấu diếm, cốt sao chúng là con dân Vạn Xuân, có lòng với nước là được.
Và cứ thế, Lam Giang bỗng có thêm hai đứa con.
Chiều ngày 2 tháng 4, Chương đến Chiêu Thiền tự để trực tiếp xem Bố Giáp bày binh bố trận. Thiên Đức quân đã dùng máy phóng lao, phóng những sợi dây thừng có móc buộc qua bên kia bờ sông để kéo đổ nhiều đoạn rào cự mã. Tuy nhiên, quân sĩ La thành mau chóng dựng lại như cũ chỉ sau vài canh giờ.
Chương nghe Bố Giáp và Vương Chí Linh báo cáo tình hình xong, liền cho gọi chỉ huy Tiểu đoàn 4 Thần Sấm cùng tiểu đội Thiên Tử quân đến họp.
– Tiểu đoàn 4 có một Cự thạch pháo cỡ lớn và đạn cầu nổ phải không?
Tiểu đoàn trưởng xác nhận có 24 quả đạn cầu nổ loại mới nhất. Ông ta cho biết, chúng chỉ được phép dùng theo kế hoạch hoặc khi có lệnh từ Lữ đoàn trưởng, do tính sát thương khủng khiếp của chúng.
– Thiên Tử quân sẽ thám sát và chỉ điểm vị trí thuận lợi. – Chương ra lệnh. – Các cậu được phép dùng tối đa 10 quả đạn nhằm tạo cửa mở hoặc yểm trợ bộ quân vượt sông Tô, thế nào?
Đôi mắt Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 sáng rực:
– Báo cáo, chúng tôi tuyệt đối trung thành và sẽ tuân thủ mệnh lệnh của ngài.
– Tầm bắn xa nhất là bao nhiêu?
– Dạ thưa, khoảng một dặm.
Chương ngoảnh sang bảo Bố Giáp và Vương Chí Linh:
– Hai ông nói anh em đắp cho khoảng dăm bảy mô đất, ta sẽ vẽ hình minh họa. La thành đắp lũy bằng đất và cát tại các vị trí trọng yếu nhằm hạn chế uy lực của thần công. Bờ sông hai bên bằng phẳng, tầm bắn của Song thủ pháo hay Cự thạch pháo La thành giờ chẳng kém gì ta. Nếu họ chấp nhận thương vong để phản pháo thì cũng sẽ gây thương vong cho ta, nên ta cần thay đổi một chút về cách bố trí cũng như sử dụng thần công.
Chương gọi Phạm Văn Xảo, một trong các chỉ huy Thân Vệ quân vào. Anh ra lệnh:
– Cậu ở lại giúp Tiểu đoàn 4 bố trí trận địa.
Phạm Văn Xảo vốn là thuộc tướng của Phạm Bạch Hổ. Nay được giao nhiệm vụ tham mưu cho pháo binh, anh lấy làm vui mừng lắm. Tướng sĩ chụm đầu bàn bạc mãi đến cuối canh Hai mới ngưng nghỉ.
Ngay trong đêm, quân sĩ đắp hàng chục ụ đất gần bờ sông. Tiểu đoàn 4 Thần Sấm kéo thần công vào vị trí trước lúc trời sáng rõ. Các ụ đất có mặt trước là những bao bố đựng đất cát, được đóng cọc tre cố định. Từ bờ đối diện nhìn sang, quân địch không thể trông thấy súng thần công. Mặt sau các ụ đất vát nghiêng, thần công sẽ đặt tại vị trí đó, vừa giúp nâng nòng súng lên cao, vừa giảm thương vong cho xạ thủ khi đạn đá, hỏa đạn La thành đáp trả. Về phản lực sau khi khai hỏa, giá súng thần công đều có bốn bánh xe, cỗ thần công bị đẩy lùi về sau nhờ bao cát chống đỡ. Để chuẩn bị cho phát bắn tiếp theo, binh sĩ sẽ đẩy pháo trở lại vị trí cũ. Như vậy, nòng súng thần công càng hướng lên cao thì tầm bắn càng gần. Ý đồ của Chương là dọn một bãi đổ bộ có chiều sâu khoảng 60 trượng tính từ bờ sông.
Dù chưa rõ ý định của Thiên Đức khi đắp các ụ đất sát bờ sông Tô, song cả ngày mùng 3, pháo La thành khai hỏa hàng chục loạt đạn nhưng không thu được kết quả gì đáng kể. Sáng ngày 4, bờ sông Tô, nơi Phùng Hiền đóng quân, cũng xuất hiện hàng chục ụ đất kỳ lạ, như muốn trêu ngươi đối phương.
Từ ý tưởng của Cao Mộc Lân, Chương chợt nhớ cách nén thuốc nổ trong ống tre để phá hàng rào, lô cốt. Với thứ vũ khí này, các đoạn rào cự mã dày đặc của La thành không còn là trở ngại. Sĩ tốt sẽ chẳng còn tốn công quăng dây kéo hay mạo hiểm xông lên khiêng rào mở lối, đối mặt với nguy hiểm tính mạng khi hàng trăm mũi tên nhắm đến. Việc chế tạo hàng trăm ống tre chứa thuốc nổ tốn mất vài ngày.
Chiều ngày 8 tháng 4, mây đen kéo đến, gió vần vũ không ngừng báo hiệu một cơn bão đang tới. Mưa bắt đầu đổ xuống lúc trời nhá nhem. Nhận thấy thời tiết phức tạp này sẽ gây khó khăn cho cả hai bên, và bên nào chủ động sẽ có chút lợi thế, Chương bèn truyền lệnh cho các đạo quân ở Sở và Chiêu Thiền hành động.
Bộ quân Thiên Đức sẵn sàng vượt sông Tô trong mưa. Thiên Tử quân tạm thu binh vì gió lớn.
Binh triều đề cao cảnh giác. Ngay khi nhận thấy đối phương rục rịch, họ liền cho pháo đá bắn cầm chừng dọc theo bờ sông.
Trời tối đen, tầm nhìn hạn chế, nên các loại hỏa đạn dùng cho Cự thạch pháo của cả hai bên đều không thể sử dụng.
Tiểu đoàn 4 Thần Sấm tại Chiêu Thiền tự và Tiểu đoàn 3 Thần Sấm gần làng Sở bắt đầu dùng đạn cầu nổ bắn sang bên kia sông, vào khoảng không gian tối mịt mùng. Đạn cầu nổ đúc bằng gang, hình tròn, gọi là quả cái. Bên trong quả cái nhồi thuốc nổ và ba quả đạn nhỏ, tức quả con, cũng đúc bằng gang nhưng mỏng hơn, chứa thuốc nổ và bi sắt.
Đạn cầu nổ là dạng đạn chùm. Chương cho đúc chúng với mục đích dùng để phòng thủ công sự hơn là tấn công, nhưng nay anh quyết định đem áp dụng trên thực địa.
Quả đạn phát nổ trong đêm đen đã gây ra những thương vong đáng kể cho binh lính đối phương hoặc thổi bay những hàng rào cự mã trong bán kính dăm trượng.
Pháo La thành đáp trả không ngừng, hàng trăm quả đạn đá rơi xuống sông Tô, tạo thành những cột nước trắng xóa lẫn trong cơn mưa.
Sau vài tiếng nổ lớn do đạn cầu nổ gây ra nhằm áp chế tinh thần đối phương, những khẩu thần công bắt đầu cất tiếng, yểm trợ cho đại đội thủy quân do Yết Kiêu phái đến. Họ đội mưa chèo thuyền tam bản sang sông, bất chấp những cột nước cao ngót cả trượng. Một vài thuyền trúng đạn gãy làm đôi, chìm giữa dòng nước xiết. Sau non một canh giờ, đại đội thủy binh đã cột được vài thang dây bên bờ tả ngạn. Bộ quân nương theo thang dây, vượt dòng nước xiết lần lượt sang sông. Lúc bấy giờ, khẩu đại Cự thạch pháo phóng liền bốn quả đạn cầu nổ, đẩy lui các toán binh triều có ý định tràn đến bờ sông. Binh triều biết bộ quân Thiên Đức đã lập được điểm đầu cầu và đang tổ chức vượt sông, liền dồn hỏa lực tới tấp. Đạn đá bay tứ tung trong đêm, phần lớn rơi xuống mép sông.
Phùng Hiền và Bố Giáp chịu tổn thất hàng trăm binh sĩ, đổi lại họ có chỗ đứng chân đủ vững trước lúc trời sáng. Nhiều đoạn rào cự mã bị thổi tung, các toán binh Thiên Đức theo đó trườn bò tiếp cận các trận địa pháo đặt gần bờ sông, buộc binh triều phải lui sâu vào trong. Suốt từ đêm đến sáng, các loại pháo của La thành chỉ phát huy chút tác dụng cản bước đội tiền quân, nhưng sau đó thì hầu như vô tác dụng khi quân địch không thể trông thấy mục tiêu.
Cơn mưa kéo dài cả đêm đã ngớt. Nước sông dâng cao, chảy xiết. Phùng Hiền và Bố Giáp chỉ huy đại quân vượt sông khi tầm đạn pháo đá của La thành không thể vươn tới lòng sông.
Truyen.free xin gửi lời tri ân chân thành đến quý độc giả đã dành thời gian đón đọc.