(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 540: Thu phục họ Kiều
Kiều Liêm không đèn không đuốc, âm thầm cùng thân binh rút quân trong đêm. Quân đồn trú trong và ngoài thành chẳng hề hay biết. Trời vừa sáng, thân binh dẫn đường của Kiều Liêm đụng phải toán tuần binh vòng ngoài của Cao Mộc Viễn đang tuần tra. Thân binh họ Kiều bất ngờ ào ra định đánh úp, nhưng rủi thay một toán tuần tra khác phát hiện, vội nổ súng đánh động, kịp thời giúp toán tuần binh thoát khỏi hiểm cảnh. Toán tuần tra này vừa tháo chạy vừa nổ súng báo động. Bất đắc dĩ, Kiều Liêm đành hạ lệnh thân binh tấn công trại dã chiến của Cao Mộc Viễn ở gần bờ sông, trong khi bản thân tiếp tục chạy về phía Bắc. Đạo thân binh nhà họ Kiều có số lượng không nhỏ, lên đến hơn một nghìn người.
Lão tướng Cao Mộc Viễn trong trại dã chiến, nghe tiếng súng cảnh giới lạ, đoán có biến nên đã tập trung binh lực và trọng pháo về hướng Tây Nam. Bọn Phan Vỹ mới đến trợ chiến phía sau, sẵn sàng xung trận khi có lệnh. Trên mấy tháp canh dựng tạm cùng vài cây cao gần đó có các tổ quan sát. Khu vực đóng quân có nhiều cây cối, nhưng không phải là rừng rậm, nên đạo thân binh nhà họ Kiều bị phát hiện từ khoảng cách hơn một dặm. Các cỗ thần công, căn cứ khoảng cách ước lượng, lập tức bắn đi vài loạt đạn. Thân binh tản ra, hò nhau tiếp cận, mỗi lúc một gần hơn. Quân dưới trướng Cao Mộc Viễn đều là lính cựu gốc Đằng Châu. Quân số đã ngang ngửa, chưa kể đến hỏa lực mạnh và đội ngũ tinh nhuệ, nào khiến đối phương có thể nao núng.
Các cỗ thần công bắt đầu bắn thẳng vào những vị trí xung phong của thân binh nhà họ Kiều, nhưng các toán thân binh vẫn bất chấp nguy hiểm, cố gắng tiếp cận trại. Hỏa pháo được dùng để ngăn chặn, kèm theo những quả lựu đạn tre. Những tiếng nổ đanh gọn đẩy lui quân tấn công, khiến họ phải rút về hướng Bắc. Cao Mộc Viễn không cho quân truy kích, vì e ngại đối phương vẫn còn súng pháo. Phan Vỹ đề nghị góp sức, Cao Mộc Viễn đồng ý nhưng dặn Phan Vỹ bám theo chờ thời cơ, chỉ giao chiến khi thời cơ thuận lợi.
Tiếng súng, lựu đạn, thần công âm vang rừng núi. Trịnh Tú ở nơi ém quân, nghe tiếng nổ vọng đến từ bờ sông không ngớt, đoán chừng trại của Cao Mộc Viễn bị tập kích nên phái Đại đội 3, Tiểu đoàn 3 rời vị trí ẩn nấp quay lại để nắm tình hình. Đại đội 3 vừa ra khỏi bìa rừng, phát hiện một đoàn người ngựa thoắt ẩn thoắt hiện trên một trảng trống, cách gần 2 dặm ở hướng Nam, liền bố trí mai phục. Đại đội 3 bị phát hiện nên buộc phải nổ súng bắn hạ toán dò đường, khiến đám người đông hơn phải quay ngựa tháo chạy về hướng Đông, nơi rừng già xanh thẳm. Đại đội 3 không truy đuổi vì sợ phục binh. Một mặt, họ quay ngược trở lại báo cáo với Trịnh Tú; một tiểu đội được lệnh trú tại vị trí, còn đại bộ phận tiếp tục di chuyển về phía trại dã chiến của Cao Mộc Viễn ở hướng Đông Nam.
Phần còn lại của Đại đội 3 tiếp tục cơ động thêm vài dặm thì đụng phải một toán thân binh nhà họ Kiều. Một trận tao ngộ chiến ngắn ngủi đã xảy ra. Đại đội 3 buộc phải rút về hướng Tây vì đối phương quá đông, điên cuồng tìm cách thoát thân.
Binh sĩ đồn trú ở thành Mật hay tin thân binh của Kiều Liêm tấn công trại Cao Mộc Viễn nhằm phá vây, bèn gấp rút tổ chức một đạo quân khoảng 1.500 kị binh và bộ binh, men theo bờ Xích Giang kéo xuống vào khoảng sau giờ Ngọ. Đại đội 3 thuộc Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 1 Sơn cước, với quân số khoảng 2 trung đội, vừa mới rút về khu vực này. Họ chưa bắt được liên lạc với quân Cao Mộc Viễn, và khi thấy quân từ thành Mật quá đông, chỉ huy đại đội quyết định án binh bất đ��ng.
Bọn Phan Vỹ bám theo đạo thân binh. Kẻ đuổi người chạy, nhìn thấy nhau nhưng không giao chiến. Đạo thân binh này vô tình đi ngang nơi bọn Trịnh Tú ém quân từ trước. Trịnh Tú chờ đợi, đổ quân từ trong rừng tấn công vào giữa đội hình, chia cắt đạo thân binh làm hai phần. Phan Vỹ đeo bám mãi, nhận thấy thời cơ thuận lợi bèn đốc quân xông lên đánh vào hậu quân của đạo thân binh. Đạo thân binh bị vỡ trận, đầu đuôi không ứng cứu được nhau. Một nửa bỏ chạy về thành Mật, nửa còn lại bị loại khỏi vòng chiến.
Phùng Hiền sau một đêm thức trắng, trinh sát báo về nhiều tiếng súng nổ ở mạn Tây Bắc, lập tức ra lệnh hành động. Phùng Hiền dàn quân thành hai hàng ngang như thể đang đi càn, nếu đụng quân họ Kiều lập tức ùa vào đánh ngay.
Kiều Liêm và đội thân binh tính vượt rừng, đánh một vòng rồi về thành Mật, thậm chí tiến tới thành Hoa Khê. Khi bọn Kiều Liêm chạm trán quân Phùng Hiền, họ lập tức hộ tống chủ tướng bỏ chạy. Quân sĩ Phùng Hiền thấy đối phương chỉ có một toán nhỏ chưa đến hai trăm người liền nổ súng truy kích đến cùng. Hai bên đều là những người gốc gác thượng du, đi rừng như trên đất bằng. Khoảng gần giờ Ngọ, bọn Phùng Hiền bắt được Kiều Liêm nhưng không biết thân phận ông ta, chỉ nghĩ đó là một toán binh chạy loạn mà thôi.
Phùng Hiền bắt tay được với bọn Trịnh Tú và Phan Vỹ bèn kéo quân tương trợ Cao Mộc Viễn.
Quân họ Kiều quanh thành Cao còn rất đông, chưa hay tin chủ tướng đã rút lui từ khi nào nên tinh thần vẫn rất vững vàng. Trong khi đó, ở phía đối diện, Lý Quang Minh không hề động binh mà chỉ lệnh cho ba quân phô trương thanh thế.
Cả ngày hôm ấy, khắp một vùng rộng lớn trải dọc bờ hữu ngạn Xích Giang, dễ đến hai mươi dặm, đâu đâu cũng có quân của hai bên đụng nhau giao chiến. Súng nổ đì đùng, trống trận vang không ngớt. Mãi đến khoảng giờ Thân, quân Thiên Đức khai thác thông tin từ tù binh mới biết tất cả bọn họ là thân binh bảo vệ Kiều Liêm đang rút về thành Mật. Chỉ huy các đơn vị lớn nhỏ của Thiên Đức lập tức tra xét kĩ tất cả tù binh, và bắt được Kiều Liêm qua độ tuổi, tướng mạo cùng đôi bàn tay của ông ta. Tin Kiều Liêm bị bắt lan nhanh hơn gió thổi, ba quân Thiên Đức hò reo. Quân nhà họ Kiều chưa rõ thực hư, lại thêm trời tối nhanh vào mùa đông, khiến tướng sĩ một phần tự tan rã, một phần tháo chạy về thành Mật.
Trời tối đã lâu, Kiều Liêm bị áp giải về thành Cao, nơi đèn đuốc rực sáng cả một góc trời. Binh sĩ nhà họ Kiều trong và ngoài thành, khi hay tin chủ tướng bị bắt, chẳng còn lòng dạ nào chiến đấu. Kẻ hạ giáo xin hàng, người lợi dụng trời tối tìm đường trốn chạy. Lý Quang Minh làm chủ thành Cao. Ngay trong đêm, Phùng Hiền đưa quân Sơn Tây hội với Cao Mộc Viễn và Phạm Chiêm, sau đó men theo bờ sông tiến lên thành Mật. Quân tướng thành Mật thấy quân Thiên Đức đông quá, chủ tướng đã bị bắt, tự tan rã, mạnh ai nấy chạy. Phùng Hiền dễ dàng làm chủ thành Mật và chiêu an dân chúng quanh vùng.
Tài sản của nhà họ Kiều vô cùng đồ sộ, quả xứng danh thổ hào một vùng trong suốt mấy chục năm trời. Ngoại trừ của cải trong tư gia họ Kiều không bị động đến, còn tất cả các kho lương thảo lớn nhỏ đều bị quân Thiên Đức tịch thu sạch. Toàn bộ lương thảo sau đó được gom hết về khu vực thành Cao.
Như nhiều lần trước đó khi khuất phục được một sứ quân, Nguyễn Lạc Thổ lập tức thả toàn bộ thổ binh trên hai mươi lăm tuổi, cho về chốn cũ kèm theo mấy chục cân ngũ cốc cùng gạo trắng. Số thổ binh trong độ tuổi sung mãn không hề ít, lên tới hơn ba nghìn người. Nhớ lại ý kiến của Trịnh Tú, Nguyễn Lạc Thổ lệnh cho thổ binh làm một con đường rộng 2 trượng từ thành Mật đến ngã ba sông Đen. Con đường dài mấy chục dặm chạy dọc sông Xích Giang, về sau dân trong vùng gọi là đường Ông Thổ. Nguyễn Lạc Thổ hiểu tầm quan trọng của phát triển kinh tế, nhớ rõ lời Chương căn dặn, bèn đưa ra quy định: cứ 10 dặm sẽ có một bến sông nhỏ, 20 dặm xây một bến sông lớn và 50 dặm dựng một thị tứ ven sông nhằm phục vụ giao thương.
Do vùng Sơn Vi bị chia cắt bởi ba con sông lớn là Xích Giang, Hắc Giang và Bình Nguyên nên Nguyễn Lạc Thổ đề xuất đặt tên là lộ Tam Giang và được Chương đồng ý. Lộ Tam Giang được chia thành ba huyện. Đó là huyện Nghĩa Lĩnh (bao gồm thành Mèn), trải dài từ sông Bình Nguyên đến bờ tả ngạn Xích Giang; huyện Sơn Vi, tính từ thành Mật đến bờ sông Hắc; và huyện Hoa Khê (dù chưa kiểm soát).
Nguyễn Lạc Thổ không vội tiến đánh Hoa Khê mà ưu tiên chiêu an dân chúng trong vùng.
Kiều Liêm, Kiều Quân Kỷ và Kiều Long Hỷ cùng một số thủ lĩnh khác bị áp giải về Vạn Xuân để Vạn Thắng vương định tội. Cha con họ Kiều tỏ ra ngang ngạnh, không chịu quỳ gối. Chương không những không trách tội, anh còn lệnh cho quân cởi trói cho cha con họ Kiều và mời họ ngồi để hỏi chuyện. Chương khen cha con họ Kiều biết chăm lo cho dân nên quyết định không trách tội. Ông cho Kiều Liêm làm Chủ tịch, đứng đầu lộ Tam Giang về mặt hành chính, có thực quyền chứ không phải bù nhìn. Gia sản mà nhà họ Kiều tích cóp nhiều đời không hề bị tịch thu, bởi lẽ như Chương đã nói:
– Vạn Thắng vương không phải kẻ cướp!
Con cháu nhà họ Kiều, bất kể gái trai từ bảy đến mười tám tuổi, phải về phủ Thiên Đức học hành để mai này trở về phát triển quê hương. Các thuộc tướng nhà họ Kiều cũng được tha bổng, nhưng phải học chữ Vạn Xuân tại trường quân sự, đặc biệt là Kiều Quân Kỷ.
Chiêu mộ hai nghìn thổ binh từng phục vụ nhà họ Kiều, thành lập Trung đoàn 5 Sơn cước, gọi là Trung đoàn Tam Giang. Toàn bộ thổ binh được chiêu mộ sau khi hoàn thành việc đắp đất, đào núi làm đường, sẽ về huấn luyện tại huyện Sơn Tây, bản doanh là Thượng Sơn. Kiều Quân Kỷ sau khi học tập sẽ chỉ huy đội quân này.
Kiều Long Hỷ được giao cho một nhiệm vụ khá đặc biệt, phải tuyển mộ hai nghìn tráng niên trong lộ Tam Giang làm công nhân xây dựng thành Bình Lỗ ven sông Nguyệt Đức.
Cha con nhà họ Kiều bấy giờ mới tạ ơn Chương. Kiều Quân Kỷ ở lại, Kiều Liêm cùng Kiều Long Hỷ trở về lộ Tam Giang. Kiều Liêm đề nghị giúp Nguyễn Lạc Thổ đánh Ngô Tất Sắc. Nguyễn Lạc Thổ chỉ nhận thổ binh dẫn đường, đồng thời giao cho Kiều Liêm đôn đốc việc làm đường bộ và các bến.
Kiều Liêm thấy quân Thiên Đức không hà hiếp, cướp phá bá tánh trong vùng, lại thấy việc làm đường sá và bến đò sẽ thuận tiện cho việc đi lại nên dùng gia sản của mình để huy động các tộc người trong vùng cùng làm. Đây là quyết định thông minh và sáng suốt của Kiều Liêm, bởi sau khi đường sá được hoàn thành, Chương lệnh cho Vương Khang trả bạc vàng lại cho nhà họ Kiều. Đồng thời, thị tứ lớn nhất nằm bên sông Xích, thuộc huyện Sơn Vi, được đặt tên là Thị trấn Kiều Gia.
Nguyễn Lạc Thổ vô cùng thắc mắc, không hiểu tại sao Chương lại sai Kiều Long Hỷ xây thành Bình Lỗ. Thành ấy ở đâu? Xưa nay Chương không hề để tâm đến việc xây thành mà nay đột nhiên đưa ra chủ ý đó. Chẳng những Nguyễn Lạc Thổ mà ngay cả các lão tướng Thiên Đức khi hay tin cũng lấy làm nghi hoặc. Thiên Bình và Duệ cũng hỏi mấy lần nhưng Chương chỉ nhoẻn miệng cười mà không hé răng lấy nửa lời. Mãi đến khi hai bà vợ hỏi quá nhiều, Chương đành bảo:
– Anh sẽ tái định nghĩa về xây thành. Một khi đã xây thì ngàn đời sau còn lưu danh. Thành là theo cách người Vạn Xuân hay gọi, còn như anh, anh sẽ coi đó là một pháo đài.
Thiên Bình cố gặng hỏi:
– Nhưng thành Bình Lỗ đó anh tính xây ở đâu?
Chương trải bản đồ ra, chỉ cho hai cô vợ:
– Phủ Thiên Đức này có thành Luy Lâu ở phía Tây, định hướng phát triển thành trung tâm kinh tế, thành chẳng có mấy giá trị phòng thủ. Bên kia sông Thiên Đức có thành Bát Vạn, thành này cũng được coi là lớn nhưng vẫn chỉ là thành đất, địa thế chẳng tính là hiểm trở. Anh muốn xây thành Bình Lỗ ở đây nhằm che chắn mặt Tây Bắc cho phủ. Đoạn này hẳn Bình chưa quên, nó gần bến đò Lo. Tên Lo nghe không hay nên anh gọi là Lỗ.
Thiên Bình vẫn không thể hiểu, Chương đành nói:
– Có thêm nhân lực, thì sẽ xây thành. Thành chẳng phải để chống dân Vạn Xuân mà sau này sẽ có lắm kẻ phải phơi thây ở nơi này nếu muốn về kinh đô.
– Anh biết trước ngày sau sẽ thế nào ư?
Chương nhún vai, đáp:
– Không chắc nhưng có vẫn hơn.
Thiên Bình lại thắc mắc:
– Nhưng lấy tên thành là Bình Lỗ thật chẳng hay chút nào.
Chương nói:
– Nhưng hay hơn nếu gọi là Duệ Lỗ, Khuê Lỗ hay Như Lỗ chứ hả? Làng Lỗ nằm ở đó, anh lấy tên con gái ghép với tên làng vậy thôi.
Duệ bấy giờ mới lên tiếng:
– Có lẽ anh sẽ dùng đá xây thành nên mới huy động đến thổ binh ư? Đá núi bên Vĩnh Yên ư?
Chương bẹo má Duệ, bảo rằng:
– Cô này cái gì cũng tỏ tường. Dân Vĩnh Yên còn nhiều khốn khó, xây tòa thành quân sự sẽ đem lại công ăn việc làm cho họ lúc nông nhàn. Thổ binh Tam Giang xây thành, dân Vĩnh Yên xẻ đá, bách tính Vũ Ninh cũng góp sức.
Duệ trầm ngâm một hồi lâu rồi hỏi:
– Hẳn khi hoàn thiện anh sẽ giao cho Quân đoàn 2 làm bản doanh?
Chương lắc rồi lại gật, anh nói:
– Quân đoàn 2 phải được chuẩn bị hoàn thiện, vì sẽ liên quan đến bí mật quân sự.
Thành Bình Lỗ có gì bí mật? Thời gian sau sẽ rõ cả thôi.
Bản quyền của những câu chữ này, được trau chuốt tỉ mỉ, thuộc về truyen.free.