(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 381: Tế Giang đến dễ
Thủy quân Đông Phù Liệt neo thuyền, theo dõi tình hình chiến sự được cập nhật hàng giờ bởi các thương thuyền ngược xuôi trên dòng Xích Giang mênh mông. Vài ngày sau, thủy quân thuộc Đại đoàn Thiên Đức do Đinh Công Tráng thống lĩnh, từ sông Văn Giang chậm rãi tiến ra Xích Giang. Mặc dù chỉ có trong tay khoảng một nghìn quân, nhưng với hỏa lực vượt trội từ thần công bắn không ngừng, Đinh Công Tráng đã đẩy Nguyễn Từ Minh vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Nếu Từ Minh dẫn quân xông tới, ắt Đinh Công Tráng sẽ lui binh vào sâu trong dòng Văn Giang. Khi ấy, hỏa lực của Thiên Đức đặt ở hai bờ sông sẽ phát huy sức mạnh kinh người. Nguyễn Từ Minh sẽ không có bất kỳ cơ hội chiến thắng nào. Nguyễn Từ Minh và Giang Hạo Điền chỉ còn cách lui binh trở về Đông Phù Liệt. Đinh Công Tráng dẫn thủy quân truy kích một đoạn, đến khi hậu quân Đông Phù Liệt rút sạch mới thôi. Đinh Công Tráng phối hợp với Vũ Bang Hộ, chỉ huy tiểu đoàn thủy quân đồn trú tại Hiến Doanh. Trước đó, Bang Hộ đã dẫn thủy quân từ Hiến Doanh về thành Luy Lâu nhằm nghi binh. Tại Luy Lâu, Vũ Bang Hộ tiếp nhận thêm bốn mươi chiến thuyền do Cao Mộc Viễn đem về quy thuận trước đó, kèm theo thủy thủ đoàn. Sau khi hội quân với Đinh Công Tráng và đánh đuổi bọn Nguyễn Từ Minh, Bang Hộ liền xuôi thuyền giương buồm đến Hiến Doanh.
Tại Hiến Doanh, Vũ Bang Hộ dùng bốn mươi chiến thuyền chở gần hai nghìn bộ binh, chủ yếu là quân sĩ thuộc Trung đoàn Ninh Hải. Hoàng Ngưu dùng năm trăm thủy quân còn lại ở Hiến Doanh và hai mươi liên hoàn hỏa pháo, tạo thành lực lượng thủy bộ tổng cộng khoảng bốn nghìn binh sĩ. Hoàng Ngưu là tổng chỉ huy đội quân này, còn Phạm Sáng giữ chức Tham mưu trưởng. Phạm Sáng hiện tại vẫn giữ quyền Chính ủy Đại đoàn Thiên Đức đơn giản vì ông là người làng Vạn, lòng trung thành với Vạn Thắng vương và Lý Hoàng hậu thì không cần phải bàn cãi. Hơn nữa, Phạm Sáng cũng là một người cẩn trọng, có tài mưu lược.
Nhiệm vụ của Hoàng Ngưu chính là tận dụng thời cơ, dẫn quân tấn công chớp nhoáng Sơn Nam Hạ. Trong số sĩ quan, hạ sĩ quan dưới trướng Hoàng Ngưu còn có Cao Bằng. Cao Bằng không giữ trọng trách gì đáng kể trong quân, xem như một môn khách của Hoàng Ngưu. Cao Bằng được Hoàng Ngưu bảo lãnh, ông giao cho Bằng năm mươi quân thân tín từng theo Cao Bằng trước đây.
Trên đường tiến công, Hoàng Ngưu nhận thêm tiểu đoàn bộ binh Luy Lâu tăng viện. Tiểu đoàn này do Linh Thông Thuận, Lưu Cơ và Đinh Điền, mỗi người chỉ huy một đại đội. Tiểu đoàn Luy Lâu trước đây thuộc quyền chỉ huy trực tiếp của Lý Công Thành, con trai thứ của Lý An. Lý Công Thành nay đã giữ chức Trung đoàn trưởng, quyền chỉ huy Tiểu đoàn Luy Lâu được giao lại cho Cao Mộc Lân. Linh Thông Thuận dù đã lập chiến công nhưng do xuất phát điểm là lính dõng, khả năng chỉ huy còn hạn chế nên cần tôi luyện thêm.
Trước khi tham gia chiến dịch, Linh Thông Thuận đã nhờ mẹ đến làng Nhất Vạn gặp Phạm Tu, ngỏ ý dạm ngõ Phạm Thu Cúc. Thu Cúc vẫn còn tơ tưởng nho sĩ Đoàn Nhữ Hài nên chưa ưng thuận dù Linh Thông Thuận rất tốt. Linh Thông Thuận bị từ chối vô cùng buồn bã. Thiên Bình, thông qua Thiên Đức hội, nắm được sự việc và báo với Chương, bởi Linh Thông Thuận gốc Siêu Loại đã hai lần lập công mà vẫn chăn đơn gối chiếc.
-Gái tham tài, trai tham sắc! – Chương nói với Thiên Bình. – Cậu Thuận là người anh tin dùng nhưng chưa có vị trí nào trong quân, trong khi Đoàn Nhữ Hài là đích ngắm của nhiều bóng hồng. Đoàn Nhữ Hài thích người khác rồi, Thu Cúc chẳng có cơ hội. Muốn vun vén cho đôi này, nhất định phải để Thu Cúc thấy cậu Thuận ưu tú hơn. Về văn chương thì Nhữ Hài hơn, nhưng đánh trận nhất định Thông Thuận sẽ chiếm ưu thế. Lần này em phải đả thông tư tưởng cho Cúc để cô ấy có cái nhìn khác về Thuận.
Quân vương sao phải lo chuyện vợ chồng cho binh sĩ? Tất nhiên Chương không thể lo liệu mọi chuyện, nhưng anh vẫn phải tìm cách lo toan cho một số người, bởi quân đội ngày một đông. Mỗi người là một vấn đề, lòng người khó đoán biết. Cần phải quan tâm đến những người có lòng trung thành với cá nhân Chương hoặc Thiên Bình.
Trần Công Tích nên duyên với Mạc Thái Hương, người nắm quyền điều chế thuốc súng. Mạc Dật là chồng Phạm Thị Hồng, người phụ trách quân nhu. Phạm Cự Lượng giữ quyền chỉ huy Đại đoàn Thiên Đức, có vợ là học trò của Chương. Phạm Bạch Hổ có vợ là Thu Vân. Nguyễn Trung Ngạn và Cao Mộng Dao, Trịnh Tú và Bùi Phất Ngân. Vợ chồng Hoàng Như Hổ hay cặp Trần Nhật Tôn với Hồng Giang, Trần Minh Dũng với Trúc… đó đều là những người trẻ nhất nhất trung thành với Chương, chứ không phải với quân Thiên Đức hay đất nước Vạn Xuân. Chương đã từng nói với bốn phu nhân của mình rằng phải cất nhắc người trẻ có tài. Anh chia họ thành hai nhóm: một nhóm trung thành với cá nhân, một nhóm trung thành với sự nghiệp, hay cụ thể hơn là quân đội. Ai rồi cũng già, con cháu họ Mạc cần có người tài và nhất mực trung thành phò trợ.
Chương đã giảng giải cặn kẽ sự khác biệt của lòng trung thành giữa đại nghiệp và cá nhân cho các phu nhân. Có thể hiểu đơn giản là: người trung thành với đại nghiệp họ Mạc hoặc Lý chỉ cần người đứng đầu là con cháu họ Mạc, nhưng người trung thành với cá nhân, họ sẽ tuân theo ý định của cá nhân trước tiên. Việc luân chuyển sĩ quan, hạ sĩ quan hay nhân sĩ bề nổi nhằm giúp các cá nhân ấy có nhiều trải nghiệm, đảm trách nhiều việc, nhưng mục đích sâu xa là không để các sĩ quan, hạ sĩ quan vì hàm ơn người cấp trên nâng đỡ mà chỉ phục tùng cá nhân người đó.
Thiên Bình và Duệ rất lưu tâm đến việc này, bởi lẽ đơn giản, Duệ sẽ nắm quyền điều hành đất nước, Thiên Bình phụ trách mặt tư tưởng trong quân, nên nhất định phải có tầm nhìn thật xa. Thiên Bình tất nhiên muốn con mình sinh ra phải đứng đầu thiên hạ, kế nghiệp cha. Duệ lại muốn con của mình trở thành người tài để bảo vệ thành quả do chồng mình gầy dựng.
Về phần Yết Kiêu, đội quân của ông ta tạm đóng ở huyện Thủy Đường, nôn nóng chờ lệnh xuất kích. Chiều tối ngày mùng 3 tháng 11, trời đổ mưa kèm gió lớn, không thuận lợi cho việc khởi hành. Quá nửa đêm, mưa tạnh gió ngưng, nhưng Yết Kiêu vẫn phải đợi lệnh từ sở chỉ huy dã chiến tiền phương đóng ở huyện Tiên Minh.
Sáng sớm ngày 4 tháng 11, bình minh vừa ló dạng, quân Đằng Châu dưới sự chỉ huy trực tiếp của Khổng Chiêu Hà gióng trống mở cờ vượt sông Phú Nông.
Khổng Chiêu Hà huy động bốn nghìn thủy quân, có thêm gần hai nghìn quân trợ chiến từ Sơn Nam Hạ, đã thiết lập được năm bãi đổ bộ tại bờ sông thuộc huyện Nghĩa Trụ Hạ. Khổng Chiêu Hà dùng Cự thạch pháo đặt trên chiến thuyền lớn bắn yểm trợ, dọn đường cho quân đổ bộ, khiến các toán quân tiền phương của Thiên Đức đồn trú không thể chống cự, buộc phải lùi sâu đến ba, bốn dặm.
Quá Ngọ, Khổng Chiêu Hà đã đổ khoảng năm nghìn binh sĩ lên bờ, nhanh chóng tỏa ra thiết lập các điểm đóng quân kiên cố. Nhận thấy quân Thiên Đức chống cự yếu ớt, chủ yếu là bộ binh. Khổng Chiêu Hà đưa lên bờ hơn năm trăm Cự thạch pháo, sẵn sàng đối chiến nếu quân Thiên Đức kéo đến.
Chiều ngày mùng 4, Khổng Chiêu Hà dùng các thuyền nhỏ và tre tươi đã chuẩn b�� sẵn để kết thành cầu phao lớn, dự định đưa kỵ binh, bộ binh và cả pháo binh từ Đằng Châu sang sông. Cầu phao được làm xuyên đêm, đến sáng ngày mùng 5 thì hoàn thành. Quân Sơn Nam Hạ tiếp ứng hơn một nghìn bộ binh tinh nhuệ, nâng tổng số quân thủy bộ dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Khổng Chiêu Hà lên đến 1,2 vạn người.
Từ chiều ngày mùng 4 đến sáng sớm ngày mùng 5, Khổng Chiêu Hà chỉ huy binh sĩ vừa gấp rút dựng lều trại, vừa chống trả các cuộc phản công của quân Thiên Đức. Các đợt phản công của Thiên Đức trong khoảng thời gian này, với quy mô hai đến ba trăm quân, đều bị Cự thạch pháo đẩy lui. Đáng kể nhất, sáng tinh mơ ngày mùng 5, quân Đằng Châu đẩy lui cuộc tấn công của gần hai nghìn quân Thiên Đức, thu được hơn một trăm Cự thạch pháo và vài chục liên hoàn hỏa pháo do quân Thiên Đức tháo chạy không kịp phá hủy.
Mưu sĩ Trần Thiện và một số môn khách của Dương Cự Vọng cùng khuyên Khổng Chiêu Hà cẩn trọng, tránh mắc mưu Thiên Đức. Trần Thiện nói:
-Các tin tình báo bị cắt đứt, thực hư việc Thiên Đức tấn công mạn Bắc vẫn chưa rõ ràng. Khổng đại nhân, ngài nhất định phải đề phòng Thiên Đức dụ chúng ta vào sâu nội địa rồi ba mặt giáp công.
Môn khách Tôn Cường, người Hoa quốc mới đến nương nhờ Khổng Chiêu Hà một thời gian, cũng nêu ý kiến:
-Khổng đại quan nhân, địch quân không bày trận gần bờ sông là không có ý giao chiến. Nay ngài đứng chân trên vùng đất quang đãng, rộng rãi mà địch quân chỉ lẩn quẩn chứ không dám tiến gần, ắt hẳn có mưu mẹo gì đó để khiêu khích.
Khổng Chiêu Hà bèn hỏi:
-Tôn đại nhân, ngài có chủ ý gì?
Tôn Cường bèn đáp:
-Đành rằng quân chủ lực Thiên Đức có thể đã lên mạn Bắc, nhưng không loại trừ đây là kế dụ Khổng đại quan nhân tiến quân. Một khi ngài tiến nhanh, đội hình sẽ bị kéo dài, nhất định sẽ hở hai bên sườn, đó là điều thứ nhất. Thứ hai, nếu đưa đại quân sang sông thì phải đưa thật mau. Theo hạ thần được biết, địch nhân dù chỉ là một thư sinh tuổi trẻ nhưng một tay gây dựng cơ đồ, nhất định không phải kẻ tầm thường.
Khổng Chiêu Hà cười đầy tự tin:
-Tôn đại nhân hãy yên lòng. Dương Sứ tướng đích thân thống lĩnh năm nghìn thủy quân tinh nhuệ trấn giữ bên sườn phải đội hình, đề phòng Thiên Đức từ Nghi Dương hoặc Tiên Minh ngược sông Phú Nông. Bên cánh tả đội hình còn có đội thủy quân Sơn Nam Hạ trấn giữ. Theo tính toán của ta, đến chính Ngọ ắt đại quân sẽ sang đủ. Chúng ta chia làm ba mũi cùng tiến đánh sẽ hạn chế việc hở sườn. Thiên Đức có hỏa khí rất mạnh nhưng đã điều đến nơi khác, đây thực sự là cơ hội trời cho ta.
Thấy Khổng Chiêu Hà nét mặt tràn đầy tự tin, Tôn Cường định nói thêm nhưng rồi lại thôi. Khổng Chiêu Hà họp bàn với tả hữu, các môn khách phải lui ra. Tôn Cường nói với Trần Thiện:
-Trần tiên sinh, tại hạ có dự cảm không lành nhưng mới đến đất này chưa thể hiểu hết con người nơi đây. Trần tiên sinh có thể chỉ bảo đôi điều được không?
Trần Thiện ngó trước nhìn sau, kéo Tôn Cường ra một góc nói nhỏ:
-Kẻ đứng đầu Thiên Đức là Vạn Thắng vương, đến nay hắn đã dựng cờ được 7 năm và chưa từng thua trận nào. Quân sĩ dưới trướng xuất quỷ nh��p thần, dụng binh thần tốc, quân số tuy không đông nhưng tinh nhuệ. Chẳng giấu gì tiên sinh, thực tình tại hạ cảm thấy Dương Sứ tướng và Khương Phó sứ còn nôn nóng quá, e là…
Tôn Cường tiếp lời:
-Tại hạ nghi đây là một cái bẫy lớn. Một kẻ túc trí đa mưu như Vạn Thắng vương không thể khinh suất mà đưa đại quân đi như vậy. Ngay việc chuyển quân lộ liễu cũng đã là một điều đáng nghi. Dương Sứ tướng và Khương đại quan nhân nôn nóng có thể do sự biến mấy tháng trước. Điều tối kỵ khi dùng binh là nôn nóng.
-Tôn tiên sinh là người Hoa quốc, chẳng hay ngài thuộc tộc nào? Tại hạ từng nghe danh ngài nhưng chưa có dịp tương kiến.
Tôn Cường chắp tay thi lễ:
-Trần tiên sinh nói vậy khiến tại hạ thẹn với lòng. Mấy năm trước, tại hạ rời Tống quốc chạy nạn xuống phương Nam. Mấy tháng trước đến đất Đằng Châu, may được Khương đại quan nhân thu dụng.
-Tại hạ năm nay vừa ba mươi bảy, chẳng hay Tôn tiên sinh năm nay được bao nhiêu tuổi?
-Tại hạ bốn mươi mốt.
-Ban nãy Tôn tiên sinh có nói với Khương Phó sứ rằng phải đưa qu��n sang thật mau là vì cớ gì? Xin tiên sinh giảng giải cho tại hạ được rõ.
Tôn Cường không giấu được vẻ lo lắng:
-Địch quân có ý dụ ta vào sâu. Nếu quân sang sông chậm, địch quân thừa cơ đánh úp lúc đó, quân ta sẽ bị cắt rời, đầu đuôi không thể ứng cứu lẫn nhau, ắt sẽ đại bại. Chẳng phải tại hạ không tin Dương Sứ tướng, nhưng khởi đầu thuận lợi như vậy khiến tại hạ băn khoăn. Điều nguy hiểm nhất cho đến nay, theo tại hạ nghĩ, chính là chẳng ai biết trong tay Vạn Thắng vương có bao nhiêu quân. Sau đó mới đến hỏa khí. Lúc tại hạ còn ở Tống quốc, các nước đều nắm được binh lực của nhau, tuy không tuyệt đối nhưng cũng khá chính xác. Chẳng rõ binh lực địch mà giao tranh chẳng khác nào bịt mắt, tại hạ rất lo.
Trần Thiện và Tôn Cường đều có những trăn trở, điểm chung của cả hai là chưa được trọng dụng. Trần Thiện bất mãn, còn Tôn Cường thân là khách chẳng dám quá phận, hai người cũng có cái khó riêng của họ. Đất Vạn Xuân từ lâu trọng nhân sĩ, nhưng nhân sĩ lại không có chỗ đứng trong quân triều đình, nên mới xuất hiện tầng lớp môn khách.
Khổng Chiêu Hà cũng lo trúng kế, nhưng nỗi lo ấy giảm dần khi ông ta đẩy lui được hàng chục đợt phản công lẻ tẻ của quân Thiên Đức. Mọi chi tiết về câu chuyện này đều thuộc quyền sở hữu của truyen.free, nghiêm cấm sao chép dưới mọi hình thức.