(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 337: 12 sứ quân
Chương không phải bận tâm quá nhiều đến việc an dân ở huyện Vũ Ninh. Những nhân sĩ như Ngô Thì Nhậm, Phạm Sư Mạnh, Lê Văn Thịnh, Ngô Miên Thiệu, Vũ Trinh hay Phạm Ba Duy đã chung tay giúp đỡ bằng cách luân chuyển nhân sự. Nhân sĩ huyện Vũ Ninh được điều động đến các huyện như Thiên Đức, Thừa Thiên hoặc Siêu Loại để vừa học việc, vừa học chữ, vừa tìm hiểu nhân tình thế thái. Trong tương lai gần, họ sẽ trở về Vũ Ninh một thời gian trước khi được điều động đi nơi khác theo dự thảo luật Thiên Đức.
Việc chiếm giữ phân nửa châu Vũ Ninh đồng nghĩa Chương có thêm hơn 9 vạn dân, nâng tổng số dân trong 15 huyện thuộc phủ Thiên Đức lên hơn 67 vạn người. Đặc biệt, số trẻ em sơ sinh trong 4 huyện Thuận Thiên, Thừa Thiên, Thiên Đức và Siêu Loại có dấu hiệu tăng gấp đôi so với trung bình các năm trước, nhờ cuộc sống ngày càng ấm no.
Dân số tăng nhưng Chương không tăng quân đáng kể. Quân chính quy Thiên Đức với ba vạn binh sĩ gồm kỵ binh, bộ binh và thủy quân. Mỗi huyện có một tiểu đoàn gồm năm trăm quân luân phiên trực chiến. Dân binh tại các làng dao động từ hai mươi đến năm mươi người, tùy thuộc vào quy mô làng lớn hay nhỏ. Dân binh được chia thành ba loại: 1, 2, 3. Trong trường hợp cần huy động, loại 1 sẽ được ưu tiên triệu tập trước tiên. Tính ra, Chương có trong tay gần 5 vạn binh mã từ 17 tuổi trở lên khi cần huy động.
Song song với việc chế tạo một số hỏa mai hai nòng, xưởng quân khí đã sản xuất thành công nòng hỏa mai có khương tuyến. Nhờ đó, tầm bắn của hỏa mai được nâng từ khoảng 20 trượng lên 30 trượng.
Phòng Nghiên cứu - Chế tạo Vạn Xuân đã cho ra đời loại đạn mới giúp nạp đạn nhanh hơn. Đạn tròn dùng cho nòng trơn được thay bằng đạn dài nhọn. Đạn dài nhọn có đầu đạn bằng chì hoặc đồng. Qua thử nghiệm, đầu đạn chì có độ tản mát lớn nhưng vẫn được ưu tiên sản xuất do nguồn nguyên liệu dồi dào và giá thành rẻ hơn đồng.
Súng hỏa mai VX1 nòng có khương tuyến được cải tiến đôi chút: đạn nhét bên hông súng, dùng cần đẩy viên đạn lên. Đuôi viên đạn có dây cháy chậm thò ra ngoài thân súng, châm lửa là có thể khai hỏa. Đầu đạn bắn đi, vỏ đạn nhặt lại đem về giao nộp. Chương muốn làm loại đạn có hạt nổ như AK, súng có kim hỏa nhưng chưa thể thực hiện. Chính anh còn chưa nghĩ ra cách làm hạt nổ bằng những nguyên liệu sẵn có. Tuy vậy, hỏa mai với tầm bắn xa, thời gian nạp đạn rút ngắn, lại dễ bảo quản hơn đã là một bước tiến vượt bậc so với thời đại bấy giờ.
Bởi việc chế tạo hỏa mai VX1 cùng đạn mẫu mới phức tạp hơn, nguyên liệu khan hiếm, đòi hỏi sự tỉ mẩn và độ chính xác cao, nên trước mắt Chương trang bị một trăm khẩu cho đội nữ binh cận vệ và một trăm hai mươi khẩu cho lực lượng bắn tỉa.
Nguyễn Địa Lô, 19 tuổi, được chỉ định làm Trung đội trưởng do những thành tích đáng nể trong giao chiến tại huyện Siêu Loại. Trung đội bắn tỉa có hơn hai mươi nữ chiến sĩ, số còn lại là nam chiến sĩ. Bùi Thị Xuân chịu trách nhiệm huấn luyện đội XT1. Đội XT1 chịu lệnh điều động trực tiếp của Vạn Thắng vương hoặc Hoàng hậu, và bản doanh của đội đặt gần làng Vạn Xuân.
HM60 cũng như thần công có một loại đạn ria gọi là đạn hoa phượng. Loại đạn này dùng để bắn cự ly gần, chống lại kỵ binh và bộ binh áp sát. Mỗi viên đạn chứa các mẩu sắt vụn hoặc nhiều viên bi nhỏ bằng sắt, chì. Phòng Nghiên cứu - Chế tạo đã cải tiến loại đạn này nhằm giúp xạ thủ giảm thời gian nhồi đạn, đặc biệt là sau vụ trại Kẻ Lầm bị kỵ binh tập kích.
Chương ấp ủ chế tạo một khẩu súng trường tương tự mẫu K44. Anh tin rằng khi cải tạo, nâng cấp hoàn thiện đạn dược và nòng rãnh xoắn, trang bị súng K44 cho quân sĩ, số quân thường trực sẽ giảm khoảng một nửa.
Thế nhưng, ngày ấy chắc vẫn còn xa vời khi anh chưa thể phát triển ngành khai khoáng.
Để đảm bảo bí mật việc chế tạo mẫu súng VX1, Chương tách các bộ phận riêng lẻ giao cho nhiều nơi sản xuất cấu kiện, còn nơi lắp ráp súng được giữ bí mật tuyệt đối, số lượng nhân sự liên quan đến toàn bộ quy trình này cũng không nhiều. Tiểu đoàn Thiên Kim nhận trách nhiệm bảo vệ nơi ráp súng và gia quyến những người làm nhiệm vụ ấy.
Thiết Giáp đĩnh mẫu số 1 đã được cho chạy thử nghiệm vào ban đêm trên sông Dâu nhưng còn rất nhiều trục trặc và liên tục phải thay đổi cách bố trí guồng quay hoặc khớp truyền động. Thân thuyền được làm bằng gỗ, bọc sắt hoặc đồng, với hai bánh guồng lớn bằng kim loại đặt ở hai bên mạn thuyền, cùng hai bánh nhỏ đặt ở phía sau. Chân vịt thì dễ làm nhưng việc đặt ở phần đuôi, chìm dưới nước, xoay mạnh để tạo lực đẩy mạnh mẽ thì vô cùng khó khăn. Chương đành tự an ủi rằng, một chiến thuyền không cần chèo phu đã là bước tiến vượt trội so với kẻ khác rồi. Chỉ cần thuyền chạy nhanh và xa hơn gấp đôi đối thủ đã chiếm ưu thế gần như tuyệt đối.
Tinh gọn và cơ động vốn là điều Chương hướng đến khi xây dựng quân Thiên Đức.
Những cuộc đụng độ lẻ tẻ với quân La thành ở phía Đông và Đông Bắc huyện Vũ Ninh hay Tam Đái bên bờ Bắc sông Nguyệt Đức chưa khiến Chương phải bận tâm nhiều. Theo sự sắp xếp, Cao Mộc Viễn lo bảo vệ mặt Bắc, Lê Phụng Hiểu giữ thành Bát Vạn. Phạm Bạch Hổ bố trí một tiểu đoàn pháo binh trên dãy đồi sau thành.
Chương điều chuyển D341 của Dương Cát Lợi đóng ở làng La Cối. Tiểu đoàn Bộ binh TB31 có bốn đại đội trực thuộc Đại đoàn Thánh Dực.
Mặc dù danh nghĩa là đại đội, nhưng mỗi đại đội có đến năm trăm binh sĩ đồn trú quanh La Cối, tạo thành thế chân vạc cùng D341 trấn giữ mặt phía Đông và Đông Bắc huyện Vũ Ninh.
Các tiểu đoàn như Đại Thắng đổi phiên hiệu thành D311, D312 Toàn Thắng đóng quân ở huyện Siêu Loại. D316 Chiến Thắng, D317 Toàn Thắng và D318 Vũ Ninh gồm phần lớn quân sĩ mới tuyển chọn từ Vũ Ninh cùng đóng trong thành Bát Vạn.
Lê Phụng Hiểu thành lập Trung đoàn Thiết kỵ Vũ Ninh, phiên hiệu E32. Phụng Hiểu chỉ huy các đơn vị đồn trú ở huyện Vũ Ninh, trực thuộc Đại đoàn Thánh Dực của Bàn Phù Sếnh. Bàn Phù Sếnh là Đại đoàn trưởng, còn Phụng Hiểu giữ chức Phó. Như vậy, Đại đoàn Thánh Dực chịu trách nhiệm quản lý hai huyện Siêu Loại và Vũ Ninh.
Dù gọi là Trung đoàn Thiết kỵ Vũ Ninh nhưng trong tay Lê Phụng Hiểu mới có hơn sáu trăm binh sĩ. Song song với việc tuyển quân, Phụng Hiểu đốc thúc việc tìm kiếm và mua sắm ngựa chiến chất lượng cao trang bị cho trung đoàn.
Chương bố trí dân làng Đa Tốn về huyện Siêu Loại để lập làng Đa Tốn. Dân làng Đa Tốn được giao nhiệm vụ sản xuất quân trang, ưu tiên trang bị cho kỵ binh. Họ sử dụng lò luyện mới với than đá, và đổi lại, dân làng sẽ nhận được những ưu tiên đặc biệt, dù đi kèm với một số hạn chế về tự do. Việc đảm bảo an ninh sẽ do Bàn Phù Sếnh đảm trách. Trẻ em làng Đa Tốn theo học tại huyện Thừa Thiên, không ở trong làng. Đó cũng là một cách Chương tính toán cho tương lai, nhằm kiến tạo một thế hệ Thiên Đức mới.
Nói về tình hình Vạn Xuân sau khi liên quân các sứ quân thua trận rút lui. Từ 16 sứ quân cát cứ, nay chỉ còn lại:
Trữ quân Lý Long Xưởng ở La thành, kinh đô Vạn Xuân. Tô Trung Từ kiểm soát chặt chẽ trị an trong vùng bằng bàn tay sắt. Việc Tả Thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ dùng kế ve sầu thoát xác đầu quân sang Thiên Đức thực sự gây chấn động lớn. Bên cạnh đó, Tô Trung Từ nghe đồn Vạn Thắng vương có thêm một nhân sĩ Ngô Thì Nhậm không rõ lai lịch. Tô Trung Từ đoán rằng Ngô Thì Nhậm rất có thể chính là Ngô Hy Doãn nhưng chưa có bằng cớ xác đáng. Nếu có, Tô Trung Từ sẽ tru di cả họ Ngô.
Quan tướng La thành mặc dù bề ngoài phải tuân theo sự sắp đặt của Tô Trung Từ do thế lực họ Tô quá mạnh và binh quyền đều nằm trong tay Tô Trung Từ, song vẫn tồn tại một nhóm văn quan ngầm chống đối, đứng đầu là Tể tướng Tô Hiến Thành, dù cũng mang họ Tô. Tể tướng Tô Hiến Thành đang ở thế yếu do thiếu vắng thân tín trong quân đội, đành âm thầm lo việc triều chính giúp Trữ quân.
Việc Tả Đô đốc Phạm Tu tuyên đọc thánh chỉ trước trận chiến đã gây ra nhiều hệ lụy trong quân đội. Bấy lâu nay Lý Long Xưởng xưng Trữ quân, nay chiếu nhường ngôi đã được bố cáo thiên hạ, ấn kiếm đều trong tay Vạn Thắng vương. Vạn Thắng vương cũng đã ban bố phế bỏ ngôi vị Trữ quân của Lý Long Xưởng. Long Xưởng không đời nào chịu chấp nhận, Tô Trung Từ càng không.
Lý Mẫn nhận lệnh của Thái úy ra sức mộ quân, đóng thuyền lớn và làm hàng nghìn Cự thạch pháo. Trong khi Thiên Đức tấn công thành Bát Vạn, Lý Mẫn cũng cho quân vượt sông chiếm giữ một phần đất đai cùng khoảng 1 vạn dân làm bình phong che chắn, do lo ngại Thiên Đức có thể đánh tràn qua sông Xích Giang bất cứ lúc nào. Đồng thời, Lý Mẫn tạm thời hòa hoãn với Phùng Lễ ở mặt Bắc, và nhượng lại một số vùng đất mà hai bên từng tranh chấp.
Sơn Tây vương Lý Long Trát ở Sơn Tây, phía Bắc La thành, vốn có ý giúp Vạn Thắng vương bằng cách tạo áp lực với Tô Trung Từ nhưng sau khi nhận đủ quyền lợi, lại bị quần thần can gián không nên động binh. Bản thân Sứ tướng Phùng Lễ cũng lưỡng lự, sau cùng án binh bất động theo dõi tình hình.
Phùng Lễ có được Cự thạch pháo, nỏ Liên Châu, vòng bi và không ngừng cải tiến chúng, nhưng Thiên Đức lại sở hữu thần khí với uy lực vượt trội. Phùng Lễ muốn sở hữu vũ khí ấy, đã vài lần đề nghị chuyển giao công nghệ song đều nhận những lời từ chối khéo léo. Sơn Tây vương theo lời quần thần, dần kiểm soát nguồn nguyên liệu mà Thiên Đức đang khai thác nhằm tạo thêm áp lực.
Tô Trung Từ bại trận, thông tin về việc Công chúa Lý Thiên Bình kế thừa ngai vàng gây chia rẽ trong chính nội bộ thành Sơn Tây. Thái sư Lý Đạo Thành có ý muốn ủng hộ Sơn Tây vương theo phe Thiên Đức để xưng thần. Bố Giáp, Nguyễn Chính Nghĩa cùng một số văn quan khác cũng ủng hộ Thái sư, nhưng do chức vị thấp kém, không có tiếng nói nên đành phải giữ im lặng. Phùng Lễ cùng nhiều văn thần, võ tướng không muốn phục vụ vua bà, việc vua bà nhường ngôi, và giang sơn mang họ Mạc càng khiến họ băn khoăn. Suy cho cùng vẫn là vì địa vị của bản thân. Nếu xưng thần, Phùng Lễ cùng những người khác ắt sẽ dưới trướng những văn thần, võ tướng trẻ tuổi, vô danh của Thiên Đức. Dẫu Vạn Thắng vương từng giúp sức nhưng ơn nghĩa ấy cũng đã trả đủ rồi. Sau cùng, để trong ấm ngoài êm, Thái sư Lý Đạo Thành khuyên Sơn Tây vương dùng kế hoãn binh, không đối đầu trực diện, song vẫn tạm thời thừa nhận Vạn Thắng vương là người kế vị Lý tiên vương, để chờ đợi tình hình mới.
Sứ quân Đỗ Động Giang (vùng sông nước của họ Đỗ) nằm ở phía Đông La thành và phía Nam thành Sơn Tây. Lỵ sở sứ quân đóng tại thành Tích Lịch, nằm sâu bên trong Tích Lịch Giang (sông Sấm Sét). Đỗ Thục vốn là một võ tướng mưu lược dưới thời Lý tiên vương, con cháu dòng họ Đỗ gốc người Hoa, vốn là một thế gia vọng tộc trong vùng. Nhờ vậy, Đỗ Thục thuận lợi dựng cờ xưng hiệu Đỗ Cảnh công.
Bản chuyển ngữ này là thành quả biên tập của truyen.free.