Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

(Đã dịch) Tuyệt Đối Quyền Lực - Chương 80 : Chương 80

Dương Đắc Chí (1911—1994), tên gốc Dương Kính Đường, sinh ngày 3 tháng 1 năm 1911 tại cầu Nam Dương, huyện Lễ Lăng, tỉnh Hồ Nam (nay thuộc Chu Châu), trong một gia đình thợ rèn ba đời. Ông là một chiến sĩ cộng sản trung thành đã qua thử thách, một nhà cách mạng vô sản, một tướng lĩnh nổi tiếng của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, được phong hàm Thượng tướng.

Sinh ngày 3 tháng 1 năm 1911 tại cầu Nam Dương, huyện Lễ Lăng, tỉnh Hồ Nam (nay thuộc Chu Châu), trong một gia đình thợ rèn ba đời. Thuở nhỏ, ông theo cha học nghề rèn sắt, sau đó đến làm công nhân tại mỏ than An Nguyên, Bình Hương, Giang Tây.

Năm 1928, ông tham gia khởi nghĩa vũ trang Tương Nam, gia nhập Sư đoàn 7 Quân Cách mạng Công Nông, và cùng bộ đội tiến lên Tỉnh Cương Sơn. Tháng 10 cùng năm, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Năm 1930, ông được bổ nhiệm làm tiểu đội trưởng cảnh vệ thông tin, đại đội trưởng đặc vụ, đại đội trưởng pháo binh của Sư đoàn 11 thuộc Hồng Quân số 4, tham gia các trận chiến Văn Gia Thị, Cát An và các chiến dịch phản "tiễu trừ" ở Khu Xô viết Trung ương.

Từ năm 1932, ông lần lượt giữ các chức vụ như Đoàn trưởng Đoàn 93 thuộc Sư đoàn 45 mới thành lập của Hồng quân số 15, Đoàn trưởng Đoàn 20 thuộc Sư đoàn 7 của Quân đoàn 1 Hồng quân, Đoàn trưởng Đoàn 1 thuộc Sư đoàn 1. Ông từng được lệnh chỉ huy Đoàn 1 Hồng quân giữ vững trận địa ba ngày đêm, đẩy lùi cuộc tấn công luân phiên của ba sư đoàn quân Quốc Dân Đảng, được Tổng bộ khen ngợi và trao tặng Huân chương Sao Đỏ hạng Ba. Tháng 10 năm 1934, ông tham gia Trường Chinh, chỉ huy đoàn nhận nhiệm vụ tiên phong và trinh sát. Ông từng chỉ huy Đoàn 1 Hồng quân vượt sông Ô Giang hiểm yếu bằng vũ lực, tiêu diệt toàn bộ lực lượng đồn trú của giặc tại thị trấn Tung Minh; sau đó lại tổ chức đội đột kích "Mười Bảy Dũng Sĩ" vượt sông Đại Độ bằng vũ lực, mở đường cho các đơn vị tiếp theo. Sau khi đến Thiểm Bắc, ông giữ chức Phó Sư trưởng Sư đoàn 1 Hồng quân.

Năm 1936, sau khi tham gia chiến dịch Đông Chinh, ông được bổ nhiệm làm Sư trưởng Sư đoàn 2 Hồng quân, chỉ huy đơn vị tham gia Tây Chinh và chiến dịch Bảo Thành Sơn.

Mùa xuân năm 1937, ông vào học tại Đại học Chính trị Quân sự Kháng Nhật trong một tháng. Sau khi Chiến tranh kháng Nhật bùng nổ, ông được bổ nhiệm làm Đoàn trưởng Đoàn 685 thuộc Lữ đoàn 343, Sư đoàn 115 của Bát Lộ Quân, chỉ huy đơn vị tham gia chiến dịch Bình Hình Quan.

Năm 1938, ông giữ chức Phó Lữ trưởng và quyền Lữ trưởng Lữ đoàn 344, dẫn hơn 100 người vượt dãy núi Thái Hành, xuyên qua tuy��n phong tỏa đường sắt Bình Hán, sau khi hội quân với Đoàn 689 tại huyện Hoạt, đã giành chiến thắng tiêu diệt toàn bộ quân ngụy Hồ Kim Lộc. Sau đó, ông đã mở rộng các căn cứ địa kháng Nhật ở phía đông đường Bình Hán, phía nam sông Chương và hai bờ sông Vệ.

Mùa xuân năm 1939, ông giữ chức Chi đội trưởng Chi đội Ký Lỗ Dự, chỉ huy đơn vị phát động quần chúng rộng rãi tại khu vực Ký Lỗ Dự, triển khai và mở rộng chiến tranh du kích, lớn mạnh lực lượng vũ trang kháng Nhật, thành lập chính quyền dân chủ kháng Nhật. Ông từng liên tiếp chiếm giữ huyện Tào, Định Đào, tiêu diệt toàn bộ lực lượng vũ trang phản động của hai thị trấn, đồng thời liên tục phát động các cuộc thảo phạt hàng vạn quân ngoan cố của phe Quốc Dân Đảng do Thạch Hữu Ba, Đinh Thụ Bản cầm đầu, sáng lập nên căn cứ địa kháng Nhật Ký Lỗ Dự.

Năm 1940, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn 2 Bát Lộ Quân, kiêm Tư lệnh Quân khu Ký Lỗ Dự, tổ chức quân dân triển khai và mở rộng chiến tranh du kích bình nguyên phía sau địch, dùng chiến pháp "Đào địa đạo" nhiều lần đánh bại các cuộc "càn quét" của quân Nhật và quân ngụy; đồng thời, ông tổ chức quân đội và quần chúng tự cứu bằng sản xuất, chiến thắng thiên tai địch họa, củng cố và mở rộng căn cứ địa kháng Nhật Ký Lỗ Dự.

Tháng 4 năm 1944, ông trở về Diên An, giữ chức Lữ trưởng Lữ đoàn 1 của Quân phòng thủ liên hợp Thiểm Cam Ninh Tấn Tuy. Sau khi Chiến tranh kháng Nhật thắng lợi, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn 1 Quân khu Tấn Ký Lỗ Dự, kiêm Tư lệnh Quân đoàn 1 và 2 Quân khu Tấn Sát Ký, chỉ huy đơn vị tham gia các chiến dịch Hàm Đan, Chính Thái và Thanh Thương.

Tháng 6 năm 1947, ông giữ chức Tư lệnh Dã chiến quân Tấn Sát Ký, chỉ huy các chiến dịch Bảo Bắc, Thanh Phong Điếm. Tháng 11, dưới sự lãnh đạo của Chu Đức và Nhiếp Vinh Trăn, ông chỉ huy chiến dịch Thạch Gia Trang, tạo tiền lệ cho việc chiếm lĩnh các thành phố được phòng thủ kiên cố, nhổ bỏ một yếu điểm chiến lược của quân Quốc Dân Đảng ở Hoa Bắc, khiến hai khu giải phóng Tấn Sát Ký và Tấn Ký Lỗ Dự hợp nhất thành một vùng.

Tháng 5 năm 1948, ông giữ chức Tư lệnh Binh đoàn 2 Quân khu Hoa Bắc (sau đổi thành Binh đoàn 19 Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc), chỉ huy các chiến dịch Ký Nhiệt Sát và Sát Tuy. Trong chiến dịch Tân An, ông chỉ huy đơn vị vây hãm, phá vỡ Tân An, Bảo An, tiêu diệt hoàn toàn quân đồn trú của Quốc Dân Đảng, "Quân chủ lực" Quân đoàn 35 và hai sư đoàn khác của Phó Tổng tư lệnh "tiêu diệt" quân Quốc Dân Đảng Hoa Bắc Phó Tác Nghĩa. Sau đó, ông chỉ huy đơn vị tham gia chiến dịch Thái Nguyên, kế tiếp tiến quân Tây Bắc, tham gia chiến dịch truy kích Lũng Đông cùng các chiến dịch Lan Châu, Ninh Hạ.

Năm 1950, ông kiêm nhiệm Tư lệnh Quân khu Thiểm Tây, tổ chức quân đội tham gia xây dựng tuyến đường sắt Bảo Kê - Thiên Thủy và khai hoang lập đồn điền.

Tháng 2 năm 1951, ông tham gia Chiến tranh chống Mỹ cứu nước, giữ chức Tư lệnh Binh đoàn 19 Quân Tình nguyện Nhân dân Trung Quốc, chỉ huy đơn vị tham gia Chiến dịch lần thứ năm và tác chiến phòng ngự mùa thu. Mùa hè năm 1952, ông được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh Quân Tình nguyện, rồi Tư lệnh Quân Tình nguyện, tham gia chỉ huy chiến dịch Thượng Cam Lĩnh.

Năm 1954, ông về nước, vào học tại Khoa Chiến dịch của Học viện Quân sự, kiêm nhiệm Chủ nhi��m toàn khoa. Tháng 4 năm 1955, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân khu Tế Nam.

Năm 1969, ông được bổ nhiệm làm Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Sơn Đông, Tư lệnh Quân khu Vũ Hán.

Tháng 1 năm 1979, ông giữ chức Tư lệnh Quân khu Côn Minh, chỉ huy cuộc phản công tự vệ biên giới theo hướng Vân Nam.

Năm 1980, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Phó Tổng Bí thư, Ủy viên Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tham gia lãnh đạo công cuộc xây dựng quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc theo hướng cách mạng hóa, hiện đại hóa, chính quy hóa. Ông là Ủy viên Ủy ban Quốc phòng từ khóa thứ nhất đến thứ ba; Ủy viên dự khuyết Trung ương khóa thứ tám, Ủy viên Trung ương khóa thứ tám; Ủy viên Trung ương từ khóa thứ chín đến thứ mười hai; Bí thư Ban Thư ký Trung ương khóa thứ mười một; Ủy viên Bộ Chính trị khóa thứ mười hai.

Năm 1987, ông được bầu làm Ủy viên Thường vụ Ủy ban Cố vấn Trung ương Đảng.

Năm 1955, ông được phong hàm Thượng tướng, được trao tặng Huân chương Bát Nhất hạng Nhất, Huân chương Độc Lập Tự Do hạng Nhất và Huân chương Giải Phóng hạng Nhất. Năm 1988, ông được trao tặng Huân chương Vinh dự Công Huân Sao Đỏ hạng Nhất.

Ngày 25 tháng 10 năm 1994, ông qua đời vì bệnh tại Bắc Kinh.

Nghe nói chiến dịch "Đả Kích Nghiêm Trọng" cũng vì vụ việc này mà được triển khai, dù chỉ nghe loáng thoáng, nhưng không rõ chi tiết.

Năm 1983, cháu trai và cháu dâu của Thượng tướng Dương Đắc Chí kết hôn. Không lâu sau hôn lễ, họ đến Nam Dương, Hà Nam hưởng tuần trăng mật. Sau khi ghé chơi Ngọa Long Cương, trên đường trở về, họ đụng độ vài tên lưu manh. Bọn lưu manh này thấy cháu dâu của tướng Dương rất xinh đẹp liền trêu ghẹo. Hai bên xảy ra xô xát. Vì cháu trai từng là quân nhân nên bọn lưu manh không đánh lại, bèn bỏ đi. Tuy nhiên, trong số đó có một tên lưu manh là người nhà của Cục trưởng Cục Công an thành phố Nam Dương đương thời. Hắn đến Cục Công an tìm người, từ đó trả thù cháu của tướng Dương. Sau đó, cháu của ông đã bị đánh đập đến chết.

Khi biết được sự việc này, Dương Đắc Chí vô cùng tức giận! Ông muốn dùng pháo oanh kích Nam Dương, nhưng bị Đặng Tiểu Bình ngăn cản. Tướng Dương đã đi máy bay, lượn nhiều vòng trên không phận Nam Dương, thật lâu không muốn đáp xuống. Ông nói: "Hà Nam quá nguy hiểm!", rồi máy bay quay trở về Bắc Kinh. Khi màn đêm buông xuống, chiến dịch "Đả Kích Nghiêm Trọng" toàn quốc gây chấn động trong và ngoài nước vào năm 1984-1985 đã chính thức mở màn! Sau đó, Cục trưởng Cục Công an thành phố Nam Dương, Hà Nam vì sợ tội đã tự sát.

Nội dung này được đội ngũ dịch giả truyen.free độc quyền chuyển ngữ.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free