(Đã dịch) Trùng Sinh Dã Tính Thời Đại - Chương 344: 【 trẻ sơ sinh 】
Tống Duy Dương lưu lại trong thôn liền sáu ngày. Không có việc gì, anh lại ngồi tán gẫu cùng người già trẻ nhỏ, cuối cùng cũng khiến bí thư chi bộ thôn phải để ý.
Bí thư chi bộ thôn họ Lưu. Nếu vòng vo xét về họ hàng, ông vẫn là chú họ xa của Hồng Vĩ Quốc.
Thấy mặt trời đã ngả về tây, Tống Duy Dương đỡ một ông lão mắt mờ tai lãng về nhà. Đang định đi bộ đến nhà Hồng tứ thúc ăn nhờ vả thì Bí thư Lưu đột nhiên xuất hiện sau lưng anh, cất tiếng hỏi: “Tiểu Tống, cậu là cán bộ điều tra bí mật từ tỉnh xuống à?”
Tống Duy Dương buồn cười đáp: “Sao chú lại nghĩ cháu là cán bộ điều tra bí mật?”
“Thấy cậu loanh quanh trong thôn cả ngày, nói năng khách sáo, chắc không phải cán bộ thì cũng là phóng viên.” Bí thư Lưu nói.
Tống Duy Dương hỏi: “Chú không sợ sao?”
“Tôi có làm chuyện gì trái lương tâm đâu mà sợ?” Bí thư Lưu chậm rãi rút tẩu thuốc ra.
“Dùng cái này này,” Tống Duy Dương đưa cho ông ta một điếu Hồng Tháp Sơn, “Cháu tính toán thử xem, năm ngoái, số tiền thôn thu từ dân đã vượt quá 20% thu nhập của nông dân. Văn bản của Trung ương quy định rõ ràng rằng các khoản thu không được vượt quá 5%. Thế này là chú công khai phạm pháp rồi!”
Bí thư Lưu chẳng hề sợ hãi, quẹt diêm châm thuốc, nhả khói nói: “Vậy cậu cứ thử đi quanh mấy xã lân cận mà hỏi thăm xem. Khoản thu ở thôn Bạch Miếu chúng tôi, tuy không phải là ít nhất, nhưng ít nhất c��ng nằm trong top ba từ dưới đếm lên. Thôn có nhiệm vụ phải làm, tôi còn có thể chống đối à? Tiền hoa hồng thì tôi chắc chắn có ăn rồi, nhưng cái đó thì thấm vào đâu, nhiều lắm cũng chỉ là tiền trà thuốc thôi. Nếu cậu là cán bộ điều tra bí mật, thì cứ bắt tôi đi. Còn nếu cậu là phóng viên điều tra bí mật, tôi khuyên cậu nên đến thôn Thắng Lợi ở xã bên cạnh, cán bộ thôn đó mới đúng là loại bóc lột, hút máu dân.”
“Họ bóc lột, hút máu thế nào?” Tống Duy Dương hỏi.
Bí thư Lưu lắc đầu lia lịa: “Tôi không nói đâu, nói ra lại đắc tội với người ta. Cậu tự mà đi điều tra, đừng có ở làng tôi mà làm loạn.”
Tống Duy Dương nói: “Cháu muốn hỏi một chút, vì sao công ty lương thực lại thu tiền của nông dân?”
“Còn phải hỏi nữa à?” Bí thư Lưu cười lạnh nói, “Công ty lương thực làm gì có tiền, không thu làm sao được? Dù cho công ty lương thực có tiền, cũng sẽ không trả cho nông dân đâu, cứ khấu trừ trước đã.”
Tống Duy Dương nói: “Vì sao lại khấu trừ?”
Bí thư Lưu nói: “Các khoản phân chia chứ. Ba khoản thu, năm khoản thống nhất, cái gì cũng bắt nông dân đóng tiền. Nông dân không chịu đóng tiền, thì cứ khấu trừ thẳng vào hóa đơn tạm thu, ai cũng tiện cả. Nếu cậu đúng là cán bộ từ tỉnh xuống, thì hãy đi mà xử lý mấy vị quan tham lớn ở thành phố, trong huyện ấy. Tôi nói cho cậu biết, bây giờ nông dân kết hôn, phí làm thủ tục giấy đăng ký kết hôn cũng đã lên đến mấy trăm tệ rồi. Còn người thành phố làm thủ tục kết hôn chỉ tốn mấy chục tệ, nhiều nhất cũng chỉ khoảng một trăm tệ mà thôi. Rõ ràng là vì nông dân dễ bị ức hiếp.”
Tống Duy Dương cảm thấy không có gì để nói thêm, nên nói: “Cháu thật sự không phải cán bộ gì cả, cũng chẳng phải phóng viên, chú cũng đừng đoán mò nữa.”
“Vậy cậu cứ loanh quanh trong thôn suốt ngày để làm gì?” Bí thư Lưu hồ nghi hỏi.
“Cháu đang làm điều tra xã hội, chuẩn bị viết luận văn tốt nghiệp,” Tống Duy Dương nói, “Cháu chỉ là một sinh viên sắp tốt nghiệp thôi.”
Bí thư Lưu quay người bỏ đi, lẩm bẩm: “Học sinh không lo học hành, chạy đến đây làm loạn cái gì không biết.”
…
Sau đó một thời gian, Tống Duy Dương thăm viếng gần đó bốn xã và hơn mười thôn xóm.
So sánh ra, thôn quê của Hồng Vĩ Quốc đã được coi là một thôn có mức sống khá, trên trung bình. Những thôn thực sự nghèo khó thì có hai loại chính: một là cán bộ thôn quá tham lam, hai là đất đai quá cằn cỗi.
Nói cách khác, với mức độ thu các khoản từ nông dân như hiện tại, mỗi mẫu ruộng ít nhất phải thu hoạch trên 900 cân lúa mới có thể đủ chi trả. Nếu không, nông dân coi như làm không công. Mà những ruộng nước có thể đạt năng suất trên 900 cân lúa thì rất, rất hiếm, đúng là của hiếm.
Điều này dẫn đến hệ quả gì?
Số tiền nông dân kiếm được từ việc bán nông sản phụ và làm công ngắn hạn, đều bị các khoản thu và phí phân chia vét sạch, chỉ còn lại một đống lương thực trong nhà, căn bản không có tiền để chi tiêu trên thị trường.
Hai thôn đặc biệt nghèo khó, vì đất đai cằn cỗi, đến lương thực cũng chẳng có là bao, chỉ có thể miễn cưỡng đảm bảo không bị đói. Tỷ lệ bỏ học cấp hai vượt quá 30%, bởi vì nông dân không đủ tiền đóng các khoản phí phụ. Có nhà dù đóng được cũng không muốn cho con đi học, mười bốn mười lăm tuổi đã cho đi học nghề hoặc đi làm công.
Đi xa hơn về phía tây, Tống Duy Dương lại đến một tỉnh lân cận, thăm quê của một người chiến hữu của Hồng Vĩ Quốc. Tình hình ở đây cũng tương tự, cơ bản là giống nhau, chỉ có điều vì gần Trường Giang, nông dân đi làm công trong thành nhiều hơn, nhìn chung có vẻ khá giả hơn một chút.
Tiếp đó, anh lại đến một tỉnh ở Tây Nam, cũng là quê của một người chiến hữu của Hồng Vĩ Quốc — vì sợ có chuyện xảy ra, cần phải có người bản xứ dẫn đường.
Lần này, mấy thôn anh thăm viếng thực sự nghèo đến mức khó tin. Vì vùng đất hẻo lánh, nông dân ra ngoài làm công rất ít, chỉ có thể bám vào đất đai mà kiếm miếng ăn. Mà nơi đó toàn là vùng núi cằn cỗi, căn bản không trồng trọt được bao nhiêu lương thực, mỗi nông dân thu nhập mỗi tháng không đủ 10 tệ. Ngay cả vậy mà vẫn còn gánh nặng các khoản thu. Nông dân đừng nói là ăn thịt, một cân dầu cải có khi dùng để xào thức ăn cả năm tr���i mà chẳng thấy mùi dầu mỡ đâu. Bữa cơm tất niên mà có được hai ba món mặn thì đã là nhà khá giả lắm rồi.
Cái này thì mẹ nó viết luận văn kiểu gì đây?
Viết cái quái gì chứ!
Tống Duy Dương nghiên cứu về việc thúc đẩy nhu cầu nội địa của Trung Quốc thông qua thị trường nông thôn và thị trấn, nhưng thực tế là căn bản không thể lay chuyển nổi. Nông dân có thể ăn được thịt đã là mừng lắm rồi.
…
Cả huyện thành không tìm thấy lấy một quán net nào. Thậm chí Tống Duy Dương muốn dùng mạng quay số qua đường dây điện thoại (dial-up), chạy khắp cả huyện mà cũng chẳng tìm thấy nổi một thiết bị modem nào.
Cái nơi chết tiệt này, chắc là đến máy tính cũng chẳng có mấy cái.
Tống Duy Dương đành phải đến thư viện huyện. Dùng một gói thuốc lá để "đả thông quan hệ", nhờ vậy mà anh có thể tự do tìm kiếm tài liệu ở đó. Rất nhanh, anh liền phát hiện một điều bất ngờ thú vị, thế mà tìm thấy một bộ tạp chí khoa học xã hội do chính tỉnh này xuất bản, mà ngay cả thư viện Phục Đán cũng không có.
Có một chuyên gia về vấn đề Tam Nông ở đó cũng kêu gọi phát triển thị trường nông thôn. Bài luận viết lý lẽ rõ ràng, chỉ có điều tính khả thi không cao.
Vấn đề Tam Nông đã trở thành trọng điểm nghiên cứu của rất nhiều nhà xã hội học, nhà kinh tế học. Tống Duy Dương ở thư viện Phục Đán đã tra cứu hơn trăm bài luận văn liên quan. Nhưng vô ích, tất cả đều vô ích. Muốn khôi phục nền kinh tế nông thôn thì nhất định phải thị trường hóa kinh tế nông thôn. Các giáo sư, chuyên gia cứ nói vòng vo về vấn đề này, bài nào cũng viết hay ho đặc sắc.
Nhưng giải pháp thực sự chỉ có một, đó chính là trước tiên phải bãi bỏ thuế nông nghiệp. Tránh né vấn đề này mà bàn về thị trường hóa kinh tế nông thôn, chẳng khác nào đang đùa giỡn lưu manh!
Tống Duy Dương rời khỏi thư viện huyện, ngậm điếu thuốc, vò đầu bứt tai suy nghĩ. Anh không biết luận văn của mình phải viết thế nào.
Hồng Vĩ Quốc tưởng anh đang lo lắng thay cho nông dân, an ủi: “Ông chủ, ông thực sự không cần phải bận tâm chuyện này. Thực ra, chỉ cần nông dân chịu khó ra ngoài làm công, thì khoản thu phân chia ở nông thôn này chẳng đáng là bao, có thấy ai chết đói đâu. Như nhà tôi đây, em trai tôi đi làm công mấy tháng ở ngoài, không những đủ tiền nộp thuế nông nghiệp, mà số tiền còn lại còn đủ mua lương thực dùng mấy năm.”
Nghe vậy, Tống Duy Dương chợt lóe lên ý nghĩ, bỗng nhiên cười nói: “Tôi biết phải viết nội dung gì rồi, lão Hồng, cảm ơn anh đã nhắc nhở.”
“Ơ?” Hồng Vĩ Quốc không hiểu rõ.
Tống Duy Dương quyết định viết lại một bài về « Tình hình kinh tế nông thôn và nguy cơ lương thực ».
Con người ai cũng có xu hướng tìm kiếm lợi ích, nông dân cũng không ngoại lệ.
Hiện tại, việc trồng lương thực của nông dân đã không còn kiếm được tiền, thậm chí còn thua lỗ. Tất yếu sẽ có ngày càng nhiều nông dân lựa chọn ra ngoài làm công, và để ruộng đất ở quê nhà hoang hóa.
Nghĩ đơn giản thôi, tôi ra ngoài làm công nửa năm là có thể nộp xong thuế nông nghiệp và mua đủ lương thực, số tiền kiếm được trong nửa năm còn lại có thể tự do chi tiêu. Đã như vậy, tôi còn cớ gì mà phải trồng trọt nữa?
Tống Duy Dương chọn các tỉnh sản xuất lương thực lớn ở lưu vực Trường Giang. Anh lấy việc công làm việc tư, nhờ nhân viên bán hàng của chi nhánh Hỉ Phong giúp anh đi khắp nơi tìm đọc tài liệu, hồ sơ. Sau đó anh ngồi chờ ở một thị trấn nhỏ thuộc Tây Nam để nhận bản fax — chiếc máy fax kiểu cũ duy nhất ở đó đã bị Tống Duy Dương trưng dụng.
Hồ sơ, tài liệu của các ban ngành chính phủ, đâu phải cứ muốn tra là tra được.
Chính Tống Duy Dương đã bỏ tiền túi ra hơn 60 ngàn tệ, nhờ sự hỗ trợ của nhân viên bán hàng chi nhánh Hỉ Phong, cuối cùng cũng thu thập được số liệu tổng quát ban đầu. Tiếp đó, anh lại tổ chức 30 người, đến các xã, thị trấn để tiến hành điều tra thực địa, trước sau tốn gần 100 ngàn tệ, thu được số liệu chi tiết và xác thực hơn.
Tổng cộng hao tốn 150 ngàn tệ, chỉ để viết một bài luận văn tốt nghiệp, quả là đồng tiền có sức mạnh ghê gớm.
Dựa trên số liệu điều tra thu được, ở một số tỉnh sản xuất lương thực lớn thuộc lưu vực Trường Giang, diện tích ruộng đất bị bỏ hoang đã gần đạt 3% tổng diện tích đất canh tác, và có xu hướng tăng dần theo từng năm. Tình trạng ruộng bỏ hoang theo mùa vụ còn nghiêm trọng hơn, đến cây màu cũng chẳng ai muốn trồng, nông dân lựa chọn đi làm công ngắn hạn khắp nơi để kiếm tiền.
Nông thôn nào giao thông càng tiện lợi, thông tin càng thông suốt thì tình trạng ruộng đất bị bỏ hoang l��i càng nghiêm trọng hơn. Có nhiều nơi cả thôn cả thôn nông dân đều đi làm công ở ngoài, chỉ còn lại một ít người già, yếu, tàn tật ở nhà trồng trọt trên mảnh đất của mình.
Trong một tòa nhà "đồng tử lâu" kiểu cũ ở một huyện thành nhỏ, Tống Duy Dương dùng bút viết xong luận văn, sửa đi sửa lại một chút, xem như là đã hài lòng.
“Ừm, có thể mang về cho Đậu Đậu nhập vào máy tính, coi như cho con bé tập đánh máy.”
“Lão Hồng, anh đi tìm chủ nhà, trả lại phòng đi, ngày mai chúng ta đáp chuyến về Thượng Hải.” Tống Duy Dương vừa sắp xếp bản thảo vừa nói.
“Được, tôi đi ngay đây.” Hồng Vĩ Quốc bước nhanh ra ngoài.
Tòa đồng tử lâu này xem ra cũng không tệ, không khí rất tốt, ban ngày cũng yên tĩnh. Chỉ là không có nhà vệ sinh thì rất bất tiện, mỗi lần đều phải xuống lầu đi bộ mấy trăm mét, đến nhà vệ sinh công cộng gần đó để giải quyết nhu cầu cá nhân.
Hố xí lộ thiên, mùi hôi thối nồng nặc. Lần đầu tiên Tống Duy Dương đi vệ sinh suýt nôn.
Ngậm điếu thuốc để át mùi hôi, Tống Duy Dương rầm rầm bắt đầu xả nước. Chưa kịp đi tiểu xong, anh đã nghe thấy tiếng khóc của một đứa bé sơ sinh vọng lại láng thoáng. May mà không phải ban đêm, nếu không thì thật đáng sợ, chúng ta có thể viết thành chuyện ma mất.
Tống Duy Dương theo bản năng cúi người xuống nhìn, đột nhiên kinh hãi thốt lên: “Chết tiệt!”
Trong đường thoát nước của hố xí, lại có một đứa bé, cuống rốn còn chưa rụng, toàn thân từ trên xuống dưới dính đầy phân và nước tiểu.
Tống Duy Dương vội vàng rút điện thoại di động ra: “Hồng Vĩ Quốc, mau dẫn người đến nhà vệ sinh công cộng, ở đây có một đứa trẻ bị bỏ rơi. Nó đang nằm trong đường thoát nước, nhớ mang theo dụng cụ!”
Phiên bản dịch này thuộc về truyen.free, nơi độc giả có thể khám phá thêm nhiều thế giới mới lạ.