(Đã dịch) Đại Thời Đại 1958 - Chương 581: De Gaulle
Căn cứ Khe Sanh chỉ có duy nhất một con đường bộ dẫn ra thế giới bên ngoài. Tướng Võ Nguyên Giáp đã bố trí một sư đoàn quân trên con đường này, khiến việc chi viện từ đường bộ trở nên vô ích. Điều chí mạng là tình hình thời tiết những ngày gần đây không thuận lợi, khiến lực lượng không quân vốn là ưu thế lớn nhất của Mỹ không thể phát huy tác dụng. Thời tiết mưa dầm kéo dài đã hỗ trợ đáng kể cho quân đội Bắc Việt, giúp họ bao vây chặt căn cứ Khe Sanh và liên tục tấn công, đồng thời bố trí cắt đứt đường tiếp viện của Mỹ.
Chiến dịch Khe Sanh được xem là phép thử liệu Mỹ có thể dập tắt cuộc kháng chiến của Bắc Việt Nam hay không. Dù là Nhà Trắng hay truyền thông Mỹ, tất cả đều tin rằng thời khắc quyết chiến đã đến. Thông tin trên truyền hình cũng liên tục xoay quanh việc liệu Đại tướng Võ Nguyên Giáp có thể tái hiện đại thắng Điện Biên Phủ hay không, đến mức tình hình sinh hoạt hằng ngày của quân Mỹ tại căn cứ Khe Sanh chiếm vị trí quan trọng trong các bản tin. Cuối cùng, liệu Tướng William Westmoreland có thể ổn định tình hình bằng cách gây thiệt hại nặng nề cho quân Bắc Việt trong trận chiến này, hay Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ tái hiện chiến thắng Điện Biên Phủ, đã trở thành chủ đề nóng hổi trong các cuộc thảo luận của người Mỹ.
Cùng lúc đó, các hành động quân sự của Bắc Việt cũng đã thu hút sự chú ý của phe xã hội chủ nghĩa. Đợt động binh lớn lần này của Bắc Việt với thế tấn công chủ động đã lan truyền khắp các thành phố lớn như Moscow, Warsaw, Berlin. Mọi người dường như có thể ngửi thấy mùi khói lửa chiến tranh qua các trang báo.
Tướng William Westmoreland sẽ không dễ dàng chịu thua. Ngay cả khi bị đánh bất ngờ không kịp trở tay, ông vẫn tin rằng chỉ cần gây thiệt hại nặng nề cho quân đội Bắc Việt trong chiến dịch này là có thể hoàn toàn ổn định lại thế cuộc, từ đó giành chiến thắng trong cuộc chiến. Từ Philippines, Malaysia, Nam Việt, các máy bay ném bom không ngừng xuất kích, trút bom rải thảm gần như muốn làm tan chảy cả núi non xung quanh căn cứ Khe Sanh. Không quân, Hải quân và lực lượng Không quân của Thủy quân Lục chiến Mỹ đã huy động tổng cộng hơn vạn lượt chiếc các loại máy bay chiến đấu như F-4, F-105, B-52, máy bay cường kích A-1, A-7, trút xuống 80.000 tấn bom.
Trong khi thế giới đang chú ý đến diễn biến của cuộc chiến Khe Sanh, quân chính quy Bắc Việt và lực lượng Việt Cộng đã lặng lẽ thâm nhập Sài Gòn, Thừa Thiên – Huế cùng với đa số các thành phố ở miền Nam Việt Nam. Họ cải trang thành từng tốp nhỏ gồm nạn dân, nông dân, công nhân và cả binh lính quân đội miền Nam đang nghỉ phép.
"Toàn bộ binh lực đã vào vị trí. Rạng sáng ngày mai, tất cả mục tiêu ở miền Nam sẽ đồng loạt bị tấn công." Võ Nguyên Giáp đã ban bố lệnh tổng tấn công trên toàn Việt Nam vào thời điểm quyết định. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cùng quân chính quy Bắc Việt đã đồng loạt tấn công gần như mọi thành phố lớn, cùng phần lớn căn cứ quân sự và sân bay của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Thực tế, quân đội Bắc Việt đã triển khai tấn công xung quanh Pleiku, Quảng Nam, Đà Lạt từ rất sớm. Khi thế công nổ ra, gần như mọi cuộc tấn công ở các địa điểm đã khiến quân đội Mỹ và miền Nam Việt Nam không kịp trở tay. Các khu vực rộng lớn ở Sài Gòn và Thừa Thiên – Huế đột nhiên nhận ra mình đã được "giải phóng", cùng quân chính quy Bắc Việt và Việt Cộng đang diễu hành trên đường phố vẫy vũ khí, công khai kêu gọi người dân đứng lên tham gia cách mạng.
Lúc này, Tướng William Westmoreland mới nhận ra rằng mục đích của Võ Nguyên Giáp không chỉ dừng lại ở căn cứ Khe Sanh. Sau một thời gian ngắn bối rối, ông đã bình tĩnh trở lại và ra lệnh cho các đơn vị quân Mỹ cố thủ ở khắp nơi, dựa vào hỏa lực mạnh mẽ để tiêu diệt tối đa quân đội Bắc Việt đang tràn vào. William Westmoreland hoàn toàn có lòng tin này, bởi quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam lên đến năm trăm ngàn người, thậm chí còn nhiều hơn tổng số quân Bắc Việt đã được huy động trong đợt này.
"Chắc chắn quân Mỹ có thể dập tắt đợt tấn công này của Bắc Việt, bởi họ có quân số áp đảo. Nhưng cuộc tấn công gần như đồng loạt trên khắp mặt trận này đã giáng một đòn mạnh vào uy tín của chính phủ Mỹ. Họ vẫn luôn nói rằng Bắc Việt đã thoi thóp, quân Mỹ đang đứng trước ngưỡng cửa chiến thắng, vậy mà qua chiến dịch lần này, chẳng phải Bắc Việt đang phô trương sức mạnh sao?" Serov nhìn xong báo cáo chiến sự, không còn quan tâm nhiều đến vấn đề này nữa. Chỉ trong vài tháng tới, hai bên khó mà phân định thắng bại. Đây cũng không phải là cuộc chiến tranh tổng lực thời trung cổ, chỉ cần triển khai trên bản đồ rồi giao chiến một trận là xong. Ngay cả trong trò chơi, còn có yếu tố sĩ khí nữa chứ.
Sớm muộn gì người Mỹ cũng sẽ nhận ra mình đã mắc sai lầm lớn khi dấn thân vào cuộc chiến này. Chiến tranh Việt Nam không chỉ khiến Mỹ đối mặt với tình trạng thâm hụt tài chính mà còn làm tổn hại nghiêm trọng đến hình ảnh của Mỹ trên trường quốc tế. Dòng chảy chủ nghĩa xã hội trong thập niên 60 lại một lần nữa trỗi dậy, đồng thời việc Mỹ sa lầy đã gián tiếp hỗ trợ cho Liên Xô. Sau đó, trong suốt thập niên 70, Mỹ buộc phải "cụp đuôi làm người", để hàn gắn những vết thương nội tại mà cuộc chiến này gây ra, cho đến khi Liên Xô sa lầy vào cuộc chiến Afghanistan, Mỹ mới có cơ hội phản công.
Sau cuộc chiến này, Mỹ buộc phải "cụp đuôi làm người" một thời gian để bồi đắp lại phần quốc lực đã bị thâm hụt. Lúc này, Mỹ mới lần đầu tiên cảm nhận được rằng quốc lực của họ không phải là vô tận, và việc can thiệp vào mọi chuyện sẽ là gánh nặng không thể kham nổi. Điều này khác với chiến tranh Triều Tiên, khi đó châu Âu và Liên Xô cũng đang trong giai đoạn phục hồi. Bây giờ, các thế lực khác đã sớm thoát khỏi ảnh hưởng của Thế chiến thứ hai, trong bối cảnh các thế lực khác đang trỗi dậy, M��� đã suy yếu, đối mặt không còn là một đám yếu ớt nữa.
Tại Phủ Tổng thống ở Paris, Pháp, Tổng thống De Gaulle, với vóc dáng cao lớn nhưng gầy gò, im lặng nhìn ra ngoài cửa sổ. Ông biết rằng quyết định của mình có thể sẽ khiến Pháp hùng mạnh hơn, nhưng cũng có thể sẽ khiến Pháp rơi vào vòng nguy hiểm.
Kể từ khi Thế chiến thứ hai kết thúc, Pháp buộc phải đối mặt với hai cường quốc: Mỹ và Liên Xô. Mỹ có thực lực mạnh mẽ, còn Liên Xô lại ở rất gần Pháp. Hơn nữa, Đảng Cộng sản Pháp trong nội bộ vẫn luôn tạo thành áp lực lớn đối với các chính phủ Pháp.
Mỹ hy vọng tiếp tục đóng vai trò lãnh đạo Tây Âu, nhưng khuynh hướng độc lập của Pháp đã khiến Mỹ thất bại trong việc tranh thủ sự ủng hộ của Pháp. Trong tình cảnh đó, Mỹ buộc phải gạt Pháp sang một bên, đồng thời giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của Pháp đối với các quốc gia đồng minh còn lại, nhằm duy trì sự ổn định của liên minh Đại Tây Dương.
Về kinh tế và chính trị, đặc biệt là trong vấn đề Algeria, hai bên đã xảy ra xung đột. Khi dấu hiệu hòa hoãn Mỹ - Xô xuất hiện, cùng với quá trình kinh tế châu Âu hội nhập, tình hình thu chi quốc tế của Mỹ trở nên xấu đi và vàng chảy ra nước ngoài. Việc De Gaulle thực hiện chính sách đối ngoại độc lập sau khi lên nắm quyền cũng đã buộc Mỹ phải điều chỉnh các lợi ích cục bộ ở châu Âu cũng như tình hình chung.
Đối với De Gaulle, các chính phủ liên tiếp của Mỹ dĩ nhiên đều không ưa ông. Nhưng tầm quan trọng của Pháp, cùng với sức mạnh của Đảng Cộng sản Pháp trong nội bộ, đã buộc Mỹ phải nhắm mắt cho qua một số hành động của De Gaulle. Về kinh tế: Mỹ đã tăng cường thâm nhập kinh tế, và do tình hình thu chi quốc tế của mình trở nên xấu đi, đã ngừng viện trợ kinh tế cho Pháp, đồng thời chú trọng ngăn chặn Pháp tấn công đồng đô la. Về hạt nhân: Mỹ từ chối cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho Pháp trong việc nghiên cứu và chế tạo vũ khí hạt nhân, chỉ cung cấp nguyên liệu hạt nhân kèm theo điều kiện. Mỹ cũng tìm cách đưa lực lượng hạt nhân của Pháp vào tầm kiểm soát của mình thông qua các kế hoạch lực lượng hạt nhân đa phương, nhưng Pháp đã từ chối. Cuối cùng, nỗ lực này thất bại, và Pháp đã phần nào tự chủ được lực lượng hạt nhân của mình.
Về quân sự, một mặt Mỹ chọn chính sách bảo thủ, tránh xung đột với Pháp, cố gắng giảm thiểu ảnh hưởng của các hành động của Pháp đối với hiệu quả và tính nhất quán của NATO. Mặt khác, Mỹ bắt đầu củng cố sự đoàn kết của các đồng minh không có Pháp để chống lại Liên Xô.
Có thể nói, kể từ khi De Gaulle lên nắm quyền, ông đã gây không ít rắc rối cho Mỹ. Tuy nhiên, Liên Xô ở Đông Âu vẫn đang rình rập, nên Mỹ không thể làm gì Pháp. Chính vì thế, Mỹ mỗi lần bị Pháp gây sự, chỉ có thể bị động ứng phó tình hình.
Yếu tố Liên Xô cũng rất quan trọng, De Gaulle không thể nào phớt lờ sự tồn tại của Đảng Cộng sản Pháp. Theo đà quan hệ Mỹ - Xô bớt căng thẳng, chính sách đối Xô của các quốc gia Tây Âu cũng có những điều chỉnh. Sau khi De Gaulle lên nắm quyền, ông đã thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, khiến quan hệ Pháp - Xô càng được cải thiện rõ rệt. Trong phong trào cộng sản quốc tế, kể từ khi Khrushchev lên nắm quyền, các Đảng Cộng sản các nước đã ráo riết tìm kiếm một con đư��ng xã hội chủ nghĩa khác biệt với mô hình Liên Xô và phù hợp với đặc điểm của từng quốc gia. Tất cả những yếu tố này đã tạo ra một môi trường tương đối rộng mở, giúp Đảng Cộng sản Pháp thoát khỏi những ràng buộc của mô hình Liên Xô. Là đảng có quan hệ mật thiết nhất với Liên Xô trong số các Đảng Cộng sản Tây Âu, Đảng Cộng sản Pháp đã bắt đầu chậm rãi, thận trọng tìm tòi con đường riêng của mình.
Trong sự kiện Hungary năm 1956, Đảng Cộng sản Pháp mặc dù nhận được một số liên lụy, nhưng việc Liên Xô xử lý sau đó cũng khá ổn thỏa. Hơn nữa, cuộc biến động đó chỉ giới hạn ở một quốc gia Đông Âu nhỏ, không gây ảnh hưởng lớn đến Liên Xô. Do đó, hiện nay thế lực của Đảng Cộng sản Pháp vẫn còn mạnh, và có sức hiệu triệu mạnh mẽ trong xã hội Pháp. Hơn nữa, mức độ thân mật của Đảng Cộng sản Pháp với Liên Xô thậm chí còn mật thiết hơn một bậc so với Đảng Cộng sản Ý. Đây đều là những vấn đề khiến De Gaulle đau đầu.
Đối với đồng đô la, De Gaulle căm ghét đến tận xương tủy. Hơn nữa, ông là người đầu tiên nhận ra vấn đề của đồng đô la, ít nhất là sớm nhất trong các quốc gia Tây Âu. Ba năm trước đó, ông đã nhìn thấu sự bất ổn của hệ thống Bretton Woods và tìm cơ hội lấy đô la đổi một lượng lớn vàng. Nhưng lúc đó, ông đã bị đồng đô la phản công, nên không thu được nhiều lợi ích. Bây giờ, khi chiến tranh Việt Nam đang diễn ra, chi phí quân sự của Mỹ đã tăng vọt. De Gaulle, vốn luôn theo dõi sát sao tình hình kinh tế Mỹ, bất chợt nhận ra rằng hệ thống Bretton Woods dường như đang lung lay sắp đổ. Chỉ riêng chiến tranh Việt Nam đã khiến Mỹ tiêu tốn tám trăm tỷ đô la chi phí quân sự.
Về thái độ đối với đô la, Pháp vẫn luôn đi tiên phong. Vào năm xảy ra Khủng hoảng tên lửa Cuba, một tờ báo Pháp đã viết rằng Tổng thống De Gaulle nên luôn chuẩn bị sử dụng quân bài ngoại giao là lượng lớn đô la mà Pháp đang nắm giữ, thông qua việc mua vàng từ Mỹ để gây áp lực lên nước này. Chính phủ Mỹ đã khá coi trọng điều này. Ba năm trước, Pháp đã dùng dự trữ đô la để mua vàng, nhưng đã bị Mỹ tìm cách ngăn chặn. Lần này, De Gaulle chuẩn bị một kế hoạch lớn, liên lạc với một số quốc gia có quan hệ tốt với Pháp để cùng nhau chấm dứt vị thế của đồng đô la.
Đúng vào thời điểm Mỹ và Bắc Việt đang giao tranh ác liệt tại Khe Sanh, De Gaulle cảm thấy đây là một cơ hội tốt để hành động. Không lâu sau đó, các giám đốc ngân hàng lớn của Pháp đã đến phủ tổng thống. Họ không biết Tổng thống muốn gì ở mình, nhưng mơ hồ cảm thấy đây hẳn là một việc trọng đại.
Lần này, De Gaulle và các giám đốc ngân hàng lớn của Pháp đã thảo luận xuyên đêm về thời cơ, các đồng minh, dự trữ tiền tệ, tình hình nợ của Mỹ, thậm chí cả cuộc tổng tiến công đang diễn ra vào mùa xuân, nhằm tìm kiếm thời điểm thuận lợi nhất. Vấn đề của hệ thống Bretton Woods không nằm ở lượng tiền tệ phát hành ban đầu, vì thực tế lượng đô la đã được in ra từ lâu đã vượt xa số vàng dự trữ. Chủ yếu là vấn đề nợ của Mỹ: việc Mỹ vay nợ và in thêm nhiều đô la mới có thể gây ảnh hưởng đến vàng. Các bên nắm giữ đô la hoặc trái phiếu chính phủ Mỹ hợp lệ đều có thể đến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ để đổi lấy vàng.
Bản dịch này thuộc quyền sở hữu độc quyền của truyen.free, và mọi hành vi sao chép đều bị cấm.